Trang trong tổng số 5 trang (49 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5]

Ảnh đại diện

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn kỳ 1 (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Rườm rà hăm bốn cụm bàng non
Chiều sớm màu son sóng biển dồn
Ngắm cảnh thiên nhai chừng chửa chán
Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn


Ảnh đại diện

Điếu Phan Văn Trường (Phan Bội Châu): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Sáu năm cách mặt, nhớ nhau mà ít được gặp nhau, trông Ba Lê, trông Tây Cống, rồi trông ra Đông Kinh luôn, mấy giọt luỵ già, mênh mông trời biển;

Một kiếp thương tâm, sống vậy nên cùng nhau chết vậy, khóc Tây Hồ, khóc Tập Xuyên, nay lại khóc huynh ông nữa, một luồng gió thảm, bát ngát non sông.


Ảnh đại diện

Cảm tác (Lê Đại): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Trong nước bôn ba dạt cánh bèo,
Văn hào ngoài đảo khéo nằm queo.
Thơ không đuổi giặc ngâm vô ích,
Rượu vẫn tiêu sầu uống lại reo.
Nửa kiếp hiềm chi đầu tóc bạc,
Trăm năm còn có sử gương treo.
Dời non chí cũ nào đâu đấy?
Một khúc bi ca đọc chán phèo.


Ảnh đại diện

Tù trung huống (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Đêm dài dằng dặc sáng còn lâu,
Mấy trận mây đen kéo mịt mù.
Ai sính ngâm bài kêu vách hỏi,
Thức vi phú khúc bùn sâu.
Giục người ngựa nọ càng thêm tuổi,
Khuấy giác ve kia cố gọi sầu.
Lội nước trèo non lòng bát ngát,
Khách về một độ bạn trời thu.


Bản dịch của chính tác giả.
Ảnh đại diện

Đề Thái Nguyên thất nhật quang phục ký kỳ 4 (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Tấn kịch xin xâu đã hạ màn,
Quả bom ngòi tắt, đảng vua tan.
Non sông còn có mùi sanh khí,
Tuồng Thái Nguyên lưa một tiếng vang.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Kinh Kha nhập Tần (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Cái oan sừng ngựa giận khôn tiêu,
Bến Dịch dòng sông rủ rỉ kêu.
Lòng nghĩa cảm trời vàng mống lợt,
Khí thu dâng đất lưỡi gươm reo.
Thân côi phó mặc hơi cười khóc,
Lời hứa âu đành gửi trước sau.
Hàng thịt thành Yên người được thế!
Nhân tài sáu nước hỏi đâu đâu?


Ở trên là bài dịch của chính tác giả in trên báo Tiếng dân (1931). Dưới đây là bản trong Thi tù tùng thoại (1939, 1951):
Nỗi oan sừng ngựa giận đương đeo,
Sông
Dịch đưa người ngọn sóng trêu.
Khí hiệp suối
trời vừng mống lợt,
Hơi thu giăng đất tiếng gươm reo.
Chí côi hẳn để vui buồn ngoại,
Lời hứa đành mang sống chết theo.
Sáu nước nhân tài đâu vắng ngắt?
Khéo nhương phường
thịt tấm gương treo.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Thư hoài thị Dinh Điền phó sứ Bùi Bá Xương (Nguyễn Thông): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Bến Nghé gây nên cuộc chiến trường,
Làng say mấy lúc lại qua thường.
Cùng về xứ cũ người càng khoẻ,
Chạm mãi cơn nguy, tớ muốn cuồng.
Chầu chợ đồn rầm mối lợi lớn,
Biển khơi bao thuở cánh buồm giương?
Chỉ lưa ca khúc người Yên Triệu.
Lòng nóng sôi lòng tóc nhuộm sương.


Ảnh đại diện

Xuất đô môn (Phan Châu Trinh): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Xiềng gông cà kệ biệt đô môn,
Khảng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn.
Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn,
Thân trai nào sợ cái Côn Lôn.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Cảm hứng (Đặng Thái Thân): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Đêm nghe tiếng sóng một đôi hồi
Mới biết miền đông có biển khơi
Toan mượn gió xuân tin bạn nhớ
Tình riêng e lệ thấu anh trời


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

Trang trong tổng số 5 trang (49 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5]




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: