Thơ » Việt Nam » Cận đại » Trương Minh Ký » Ấu học khải mông (1893)
Đăng bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 vào 24/08/2025 09:20
1. Khai tông minh nghĩa chương đệ nhứt
Đức phu tử lúc ở không,
Thấy thầy Tăng tử ngồi trông, bèn rằng:
Vua xưa đức cả đạo toàn,
Thuận yên thiên hạ, hoà bằng nhơn dân.
Trên không giận, dưới chẳng hờn.
Vì sao ngươi biết được mần rứa chăng?
Thầy Tăng lánh chiếu thưa rằng:
Sâm không được sáng, biết bàn mần răng. —
Đức phu tử mới nói rằng:
Vã chăng hiếu nọ gốc đàng đức kia.
Dạy người lấy đấy làm bia;
Lại ngồi ta bảo, chớ lìa chiếu ra:
Cả mình vóc, tới tóc da,
Chịu chưng cha mẹ sanh ta vẹn tuyền
Chẳng cho hư hại gây nên,
Là đầu lòng thảo kẻ hiền sự thân.
Mình nên, đạo dạy xa gần,
Danh thơm tiếng tốt đồn dần đời sau.
Vinh cha hiển mẹ dài lâu,
Ấy là lòng thảo đuôi đầu trọn nên.
Vã chăng lòng thảo con hiền,
Trước thờ cha mẹ, giữa đền ơn vua.
Sau thì công nghiệp gắn đua,
Thân danh đôi chữ ấy tua lập thành.
Câu thi Đại nhã đành rành:
Tổ tiên ngươi nhớ, đức lành người ghi.
2. Thiên tử chương đệ nhị
Rằng: Thương cha mẹ trọn nghì,
Chẳng lòng ghét chúng chút chi mới là.
Thình lòng kính mẹ vì cha,
Dám đâu khinh dể người ta cho đành.
Kính cha thương mẹ hết tình,
Đặng trăm họ mến đức lành dõi theo.
Bày cho bốn biển kính yêu,
Thảo vì thiên tử là điều ấy thôi.
Phủ hình thiên ấy để roi:
Một người có phước, triệu người nhớ ân.
3. Chư hầu chương đệ tam
Ở trên chẳng biết kiêu căn,
Ngôi cao song chẳng nguy nan đều nào.
Tính xài ra, giữ phép vào,
Dẩy đầy mà chẳng cho hao cho tràng.
Ngôi cao song khỏi tai nàn,
Lấy làm bền giữ đặng sang nơi trào.
Dẩy đầy mà khỏi tràng hao,
Lấy làm bền giữ đặng giàu ở ta.
Giàu sang chẳng cách mình ra,
Vậy sau xả tắc mới là bình yên.
Đặng hoà kẻ dưới người trên,
Ấy là lòng thảo mà nên chư hầu.
Thi rằng: E lệ lo âu,
Như sang giá mỏng vực sâu khác gì!
4. Khanh, đại pho chương đệ tứ
Tiên vương phép biệt tôn ti,
Nên không dám mặc đồ chi sai lề.
Tiên vương phép tắc kiên dè
Nên gìn lời nói chẳng hề dám sai.
Tiên vương đức hoá lâu dài,
Nên điều trái phép chẳng ai dám làm.
Miệng không lựa tiếng, khỏi lầm,
Mình không lựa nết, mà kham việc làm.
Nói cùng thiên hạ không lầm,
Làm cùng thiên hạ không đam lòng hờn.
Ba điều được vẹn được tròn,
Vậy sau tông miến giữ còn đặng an
Ấy là lòng thảo rỡ ràng,
Chưng quan khanh tướng cùng hàng đại pho.
Thiên Chưng dân có câu thơ:
Ngày đêm chẳng trể lấy thờ chúa ta.
5. Sĩ chương đệ ngủ
Rằng: Nương thờ phụng thân cha,
Lấy thờ phụng mẹ, suy ra thương đều.
Kính cha mình đó bao nhiêu,
Lấy thờ vua ấy kính nêu ra đồng.
Kính vua thương mẹ đôi đường,
Cha thời gồm cả trọn lòng kính thương.
Vua, thờ lấy thảo thời trong,
Lớn, thờ lấy kỉnh được lòng thuận nên.
Thuận trong chẳng lỗi thì yên,
Lấy thờ kẻ lớn người trên trọn nghì.
Vậy sau giữ đặng lộc vì,
Mà lo tế tự, thảo ni sĩ hiền.
Dẫn thiên Tiểu hoản tiếp biên:
Đêm ngơi ngày dậy, khỏi phiền mẹ cha.
6. Thứ nhơn chương đệ lục
Đạo Trời thì tuyết dùng ra,
Thổ nghi phân biệt rõ là thấp cao.
Giữ mình dè nết ra vào,
Xây xài có mực, tốn hao có chừng.
Lấy nuôi cha mẹ đặng thường,
Ấy là lòng thảo chưng hàng thứ nhân.
Từ vua cho đến chúng dân,
Lập thân không được, sự thân không gìn.
Mà không hoạ hoạn đến mình,
Thì chưa có vậy, ngõ tin đạo hằng.
7. Tam tài chương đệ thất
Thầy Tăng nghe nói than rằng:
Thảo xem trọng lắm, rõ ràng lớn hung! —
Đức phu tử lại dạy rằng:
Vã chăng hiếu ấy là đàng Trời sinh.
Là đàng nghĩa Đất rộng thinh,
Là đàng hạnh tốt dân tình đều noi.
Chưng đàng Trời Đất xét soi,
Nhơn dân bắt chước để roi không cùng.
Sáng Trời để lấy làm chừng,
Nhơn theo lợi Đất thuận trong dân tình.
Ấy nên dạy chẳng nghiêm hình,
Mà nên việc chánh, mà bình trị dân.
Tiên vương thấy dạy cũng an,
Cho nên thương rộng mà thân cận đều.
Bày ra đức nghĩa dõi theo,
Mà dân dấy hạnh thương yêu nhau đời.
Làm gương kính nhượng cho coi,
Đặng dân vui thuận khỏi người tranh nhau.
Dạy dân lễ nhạc gồm bao,
Đặng cho hoà thuận đâu đâu cũng đều.
Lấy đều ưa ghét làm nêu,
Đặng dân biết cấm mà theo bên lành.
Tiệt nam thiên ấy đành rành:
Cao sang sư Đoản, dân tình trông ngươi!
8. Hiếu trị chương đệ bát
Đức phu tử lại bày lời:
Vua xưa lấy thảo trị người thế gian.
Chẳng hề dám sót tiểu quan,
Huống công hầu bá tử nam đường đường.
Cho nên muôn nước vui lòng,
Đều lo phụng sự tiên vương mình đời.
Vua không hân hủi goá côi,
Huống chi kẻ sĩ cùng người thứ dân.
Nên lòng trăm họ hân hoan,
Đều lo phụng sự tiên quân mình đời.
Chủ không mích dạ tôi đòi,
Huống con cùng vợ nở rời lòng thương! —
Cho nên kẻ ấy vui lòng,
Đều thờ cha mẹ cùng ông bà mình.
Vậy nên sống đặng an ninh,
Thát thời tế tự vong linh hưởng liền.
Ấy nên thiên hạ bình yên,
Chẳng sinh tai hại, chẳng nhen hoạ loàn.
Cho nên các đứng minh vương
Lấy lòng thảo ấy trị chưng dân Trời.
Dẫn thi tóm hết bấy lời:
Có dày đức hạnh, nơi nơi thuận hoà.
9. Thánh trị chương đệ cữu
Thầy Tăng tử lại hỏi qua:
Đức người thánh chẳng hơn là hiếu sao? —
Rằng: Trong đất rộng trời cao,
Tánh người là quí gồm bao mọi loài.
Hiếu hơn các hạnh con người,
Hiếu nào đặng quá cả đời tôn cha.
Tôn cha mà sánh Trời già,
Thì Châu công ấy thật là người cao!
Châu công xưa lập Nam giao,
Thờ vua Hậu tắc sánh bao cùng Trời.
Lập ra tông miếu để đời,
Thờ Văn vương ấy tại nơi Minh đàng.
Sánh vì Thượng đế cao sang,
Nên trong bốn biển các quan tới chầu.
Thánh nhơn công trọng đức sâu,
Chẳng chi qua hiếu, mà cầu cho hơn.
Nghĩ hồi dưới gối lối chơn,
Lấy nuôi cha mẹ ngày thường nghiêm thêm.
Thánh nhơn dạy kỉnh nhơn nghiêm,
Nhơn đương thân cận dạy kềm mến thương.
Thánh nhơn dạy chẳng nhặc hung,
Mà nên việc nước, mà xong việc nhà.
Nhơn đều người có mở ra,
Gốc là kính mến vốn ta có rồi.
Đạo cha con vốn tánh Trời,
Lại làm ra nghĩa vua tôi vuông tròn.
Vã chăng cha mẹ sanh con,
Nhơn luân tiếp nối chi hơn điều nầy.
Vua thương trị đấy ơn dày,
Lấy chi cho trọng bằng đây chăng là.
Nên không thương mẹ thương cha,
Mà thương người khác, đức ta trái rồi.
Lại không kính mẹ cha ngươi,
Kính người khác ấy lễ sai phép dời.
Thuận thời làm nghịch trái đời,
Dân không bắt chước theo người chẳng công.
Chẳng theo lành, cứ dỏi hung,
Dầu cho đặng đó cũng không quí gì.
Người quân tử chẳng mần ri,
Nói lo nên nói, làm thì được vui.
Khá tôn đức nghĩa nên đời,
Việc làm khá để cho người chước theo.
Dung nghi đi đứng khá nêu,
Tới lui có độ nên đều chịu vâng.
Vỗ về cho được lòng dân,
Sợ mà yêu đó phép lần giống in.
Cho nên đức giáo đặng bền,
Chẳng nghiêm chánh lịnh, mà yên nước nhà.
Tào phong thi ấy dẩn ra:
Người lành, quân tử, phép mà chẳng sai.
10. Kỷ hiếu hạnh chương đệ thập
Đức phu tử nói như vầy:
Hể là con thảo thường ngày thờ thân.
Ở nhà kinh mến ân cần,
Nuôi thì vui vẽ, bịnh toan ưu sầu.
Tang thì cảm mến buồn rầu,
Tế thì nghiêm chỉnh trước sau thiềng lòng.
Năm điều cho đủ cho xong,
Vậy sau mới đặng vuông tròn sự thân.
Kẻ thờ cha mẹ ân cần,
Trên không kiêu ngạo, dưới chăng trái loàn.
Ở theo với xóm với làng,
Cứ vui êm thấm, chẳng toan trành tròn.
Ở trên kiêu ngạo chẳng còn,
Dưới mà nghịch loạn thì vương luật hình.
Làm dân hay cống hay kình,
Giết nhau có thuở, hại mình có khi.
Ba điều ấy chẳng trừ đi,
Tam sinh cấp dưởng, thảo ni chẳng bằng.
11. Ngủ hình chương đệ thập nhứt
Đức phu tử lại nói rằng:
Năm hình vốn thuộc ba ngàn điều ra.
Mà trong các tội xem qua,
Tội con chẳng thảo thật là lớn hơn.
Vua là chẳng phải chỗ lờn,
Kẻ toan ép uổng, thửa lòng không trên.
Thánh nhơn lập đạo đức nên,
Kẻ chê bai ấy, là quên phép người.
Mẹ cha sanh sản ra ngươi,
Mà chê thảo ấy, thiệt loài không thân.
Đạo người mất, lẽ trời tang,
Ấy đàng loạn lớn, vậy lần rối ra.
12. Quảng yếu đạo chương đệ thập nhị
Rằng: Khuyên dân mến mẹ cha
Chi hay hơn thảo ở ta tận tình.
Dạy dân theo lễ kinh anh,
Chi hơn lòng thuận buột mình chặc khư.
Đời thói xấu, đổi tục hư,
Chi hay hơn nhạc cảm từ mình ra.
An trên trị dưới gần xa,
Chi hay hơn lể ở ta trọn đời.
Lễ là kính đó mà thôi,
Kính người cha được lòng người con vui.
Kính anh thì đẹp em người,
Kính vua chúa ấy thì tôi đẹp lòng.
Một người đặng kính đặng tôn,
Ngàn muôn người đẹp ồn ồn kính theo.
Kính thì ít, đẹp thì nhiều,
Nên là đàng tắt, ấy kêu phép nầy.
13. Quảng chi đức chương đệ thập tam
Rằng: Quân tử dạy hiếu đây,
Chẳng vào nhà chúng mổi ngày xét soi.
Dạy lòng thảo ấy khắp nơi,
Kính vì nhơn phụ mọi người theo ta.
Dạy lòng thuận ấy gần xa,
Kính người huinh trưởng nhà nhà theo gương.
Dạy làm tôi ở hết lòng,
Kính vì vua chúa chủ trương nước nhà.
Đem thi mà dần rỏ ra:
Dể vui quân tử, mẹ cha dân tình!
Bằng không chi đức ở mình,
Ai hay thuận vậy, ấy đành lớn hung!
14. Quảng dương danh chương đệ thập tứ
Rằng: quân tử thảo thờ thân
Cho nên trung ấy đời chưng vua mình.
Thờ anh đã đặng thuận tình,
Nên cùng kẻ lớn lòng thành thuận thôi.
Ở nhà trị đặng mọi người,
Cho nên trị ấy khá đời làm quan.
Nết na trong đặng vẹn toàn,
Thì ngoài danh lập vinh vang lâu đời.
15. Gián tránh chương đệ thập ngủ
Thầy Tăng nghe nói những lời,
Khi rằng từ ái, khi thời kính cung.
An thân tới rạng danh cùng,
Thì nghe dạy rỏ thí chung giữ gìn.
Còn con theo lịnh cha mình,
Nên cho là thảo, dám xin hỏi thầy? —
Đức phu tử dạy như vầy:
Ay lời gì vậy; phải lời nói chăng?
Vua xưa có bảy tránh thần,
Tuy không đạo đức cũng an dân Trời.
Chư hầu có vậy năm người,
Tuy không đạo đức trọn đời trị an.
Sĩ kia có bạn gián can,
Thì mình được khỏi lìa đàng lịnh danh.
Cha mà tránh tử can mình,
Thì mình ắt khỏi mất tình ngãi nhân.
Thấy đều bất ngãi đang mần,
Thì con chẳng khá chẳng can cha mình.
Làm tôi thật dạ trung trinh,
Phải can phải gián đặng tình nhơn quân.
Thấy đều bất ngãi thì can,
Lịnh cha theo ấy, có toàn thảo chăng?
16. Cảm ứng chương đệ thập lục
Đức phu tử lại dạy rằng:
Thờ cha xưa thảo minh vương vẹn toàn.
Thờ Trời, tế lễ rõ ràng,
Mẹ, thờ cũng thảo, Đất, càng xét soi.
Lớn cho tới bé thuận rồi,
Cho nên trên dưới trị người đều êm.
Trời soi sáng, Đất xét xem,
Thần minh tỏ rạng, ứng điềm lành luôn.
Tuy thiên tử có chổ tôn,
Là hàng cô bác, nghĩa đồng như cha.
Tuy sang có kẻ trước ta,
Là còn kẻ lớn, nghĩa là đàng anh.
Lập nhà tông miếu kính thành,
Chẳng quên thân tộc tử sánh thờ đều.
Sửa mình dè nết kính yêu,
E sai nhục trước, sợ dèo xấu sau.
Lập nhà tông miếu khẩn cầu,
Quỉ thần sáng chói, cao sâu rỡ ràng.
Ấy lòng thuận thảo trị an.
Thần minh thấu đến mọi đàng chẳng ngoa.
Sáng ngời bốn biển gần xa,
Không đâu chẳng thấu vào ra chỉnh tề.
Nhắc thi Đại nhã mà nghe:
Đông tây nam bắc khỏi e chẳng tùng.
17. Sự quân chương đệ thập thất
Đức phu tử dạy sự quân,
Rằng: Người quân tử phải phần thờ trên.
Làm quan hết dạ trung trinh,
Thôi về chửa lỗi vua mình trọng ân.
Giúp theo đều tốt vẹn toàn,
Cứu ra chỗ dữ, phò sang nơi lành.
Cho nên trên kính dưới tin,
Trên vui thương dưới, dưới đành mến trên.
Trong thi Tiểu nhã rỏ biên:
Có lòng thương chúa, sao quên mở lời?
Tại lòng dấu đó chi dời,
Ngày nào quên được nghĩa người yêu đang.
18. Tang thân chương đệ thập bát
Đức phu tử lại dạy rằng:
Thiệt là con thảo tang thân như vầy:
Khóc khan tiếng, lể chẳng bày,
Lời không thêu dệt, vẽ vời luống công.
Mặt đồ tốt, chẳng an lòng,
Nghe ra tiếng nhạc, bắt buồn chẳng vui.
Ăn đồ ngon, chẳng biết mùi,
Ấy lòng thương xót chi ngui đặng nào.
Ba ngày rồi phải cháo lao,
Dạy dân không lấy tử vào hại sanh.
Buồn rầu chẳng tới huỷ mình,
Thánh nhơn phép trị dân tình chăm chăm.
Chế tang chẳng quá ba năm
Cho dân rỏ biết khỏi lầm có sau.
Áo mền bao bọc làm đầu,
Rồi sau quan quách, liệm vào an thân.
Thấy bày đồ tế trên bàn,
Lòng càng thảm thiết, dạ càng xót thương
Dậm chơn, đấm ngực, khóc van,
Hết lòng thương xót, nên than đưa người.
Mả mồ dè dặt bói coi,
Quẻ lành an trí phải nơi cho tường.
Tại nhà lập chỗ thờ thường,
Ba năm mãn khó, dời sang nhà thờ.
Cứ theo lể phép cúng cho,
Mỗi mùa đơm quảy, bao giờ cũng thương.
Sống thì kính mến cho thường,
Thất thì thương xót, gốc dân sanh đồng.
Tử sanh nghĩa cả đủ xong,
Ấy là con thảo thờ thân chung cùng.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.