Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Song thất lục bát
Thời kỳ: Cận đại

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi nlongism vào 21/07/2020 23:19

Sáu giờ ra khỏi Nam Kỳ,
Thấy trời với nước xanh rì khắp nơi,
Đã nước biển, nghe hơi ngầy ngật,
Lại phần tàu nghiên lắc dật dờ.
35. Làm cho buồn mửa ngất ngơ,
Chóng mày chóng mặt bắt khờ bắt ngây.
Cũng có kẻ không hay dại sóng,
Ấy như người dồi vỏng đã quen.
Nổi dông thì dại sóng liền,
40. Tịnh trời không thuốc cũng thuyên mới kỳ.
Nghỉ tàu sắt, khéo gầy khéo dựng,
Ba bốn từng, coi giống toà lầu.
Cả trăm ngoài thước trước sau,
Bề ngan mười mấy, bề sâu quá mười.
45. Trên bòng lái, chơi bời cũng thú,
Dưới phòng ăn, phòng ngủ cũng xinh.
Giữa còn sân rộng thinh thinh,
Lễ ngày chúa nhựt, điểm binh mỗi chiều.
Đã ba cột, có nhiều buồn vải,
50. Lại máy thêm, quạt chạy như dông.
Nhà thương, chỗ tắm, chỗ sông,
Đàng bà khác chỗ, đàng ông khác phòng.
Lối trước mủi, có chuồng thú vật,
Chỗ nấu ăn, lại cất cũng gần.
55. Nội tàu có vỏ có văn,
Lương y, linh mục cùng hàng bá công.
Chiều mười một, Côn-nôn trông thấy,
Cảnh tự nhiên, sơn thuỷ xinh thay.
Chừng vài muôn thước bề dài,
60. Năm ngàn bề dọc, ngàn ngoài người dân.
Côn-nôn đảo, tội nhân đày đó,
Số năm nay, cũng có gần ngàn.
Người làm gạch, kẻ hầm than,
Lớp đi chài lưới, lớp mần rẩy khoai.
65. Mười giờ tối, mười hai ghé lợi,
Đất Malais, Phố mới cù lao.


Nguồn: Trương Minh Ký, Như Tây nhựt trình, Trương Minh Ký, Rey et Curiol, 1889