苦熱

天上驅雲出火輪,
東窗隱几獨傷神。
能如頑石何知苦,
衹是良心尚未泯。
愚蛇承涎終失恃,
驕蚊巢睫併欺人。
清風何處晚然至,
翰羽飄飄欲出塵。

 

Khổ nhiệt

Thiên thượng khu vân xuất hoả luân,
Đông song ẩn kỷ độc thương thần.
Năng như ngoan thạch hà tri khổ,
Kỳ thị lương tâm thượng vị dân.
Ngu trá thừa diên chung thất thị,
Kiêu văn sào tiệp tịnh khi nhân.
Thanh phong hà xứ vãn nhiên chí,
Hàn vũ phiêu phiêu dục xuất trần.

 

Dịch nghĩa

Trên trời xua sạch mây cho vầng lửa ló ra
Tựa ghế bên cửa sổ hướng đông riêng cảm thấy trong mình khó chịu
Nếu trơ được như đá thì biết gì là khổ
Nhưng vì còn chút lương tâm chưa đến nỗi mất
Cho sứa là ngu bám lấy nó mà ăn dãi rốt cuộc rồi cũng mất nhờ
Coi thường con muỗi làm tổ trên mi mắt nó mà sống chỉ là chuyện lừa người thôi
Bỗng nhiên làn gió chiều từ đâu đưa đến
Làm cho mình như mọc lông cánh muốn bay ra khỏi cõi trần


Rút từ Quế Sơn tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Không một gợn mây vầng lửa lên
Cửa đông ngồi tựa thấy không yên
Giá trơ như đá thì đâu khổ
Còn chút lương tâm hoá chịu phiền
Coi sứa là ngu trò dại dột
Sống trên mắt muỗi chuyện huyên thuyên
Bỗng nhiên làn gió chiều đâu đến
Thêm cánh cho mình vút cõi tiên

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Mây quạnh tầng không ló mặt trời,
Cửa đông bên ghế dạ bồi hồi.
Nếu như gỗ đá lòng đâu khổ,
Còn chút lương tâm phải luỵ đời.
Dãi sứa bám vào rồi cũng mất,
Làn mi làm tổ uổng công thôi.
Gió chiều đâu đó hiu hiu lại,
Chắp cánh tầng không vút thẳng chơi.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời