Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn

Đăng bởi tôn tiền tử vào 02/03/2020 13:34

Long phi chăm chắm ngôi trời,
Sửa trong chính giáo, dẹp ngoài đề phong.
Dẩy xe, nảy việc đổng nhung,
Cổ bề sấm động, hịch lông sao truyền.
Trượng phu nắng nỏ cung tên,
Chăm bề quốc sự gác bên khuê tình.
Vĩ Kiều dục thuở đăng trình,
Nước xanh lai láng, cỏ xanh rậm rầu.
Tiễn đưa treo một gánh sầu,
Con thuyên chở nặng, vó câu nhẹ bồn.
Cẩm bào sùi sụt nỉ non,
Gót vàng còn bận, chén son nỡ lìa.
Áng công danh, quyết chí thề,
Lâu Lan bủa lưới, Man Khê tiêu đòng.
Long tuyền một cán vẫy vùng,
Ngựa ô mây quẹn, áo hồng sương xuyên.
Tất gang, xẩy phút dặm nghìn,
Bên đường, ngại kẻ băng miền, xót xa.
Lá cờ trông đã xa xa,
Nào là Tế Liễu, nào là Trường Dương.
Dàu dàu ngọn khói cành sương,
Liễu dương có thấu đoạn trường này không?
Kẻ đi mưa gió mịt mùng,
Kẻ về, chăn chiếu lạnh lùng phòng hương.
Tất niềm vò võ đôi phương,
Hàm Dương chàng ngóng, Tiêu Tương thiếp ngừng.
Tiêu Tương, khói toả nghìn từng,
Hàm Dương, cây cũng ngất chừng thẳm sâu.
Xanh xanh nọ khóm ngàn dâu,
Nỗi chàng, nỗi thiếp, đong sầu nhường bao.
Cõi ngoài từ diễn âm hao,
Nước non chưa biết chốn nào ngụ nương.
Xưa nay, ở áng chiến trường,
Đã đành gối bác, nằm sương dãi dầu.
Ít nhiều cơm ống nước bầu,
Trạng chinh phu ấy, ai hầu vẽ nên.
Cách chừng chướng vụ, lam yên,
Bên đường ngại kẻ băng miền biết sao.
Đông Tây từ trỏ ngọn đào,
Ruổi rong chưa biết trận nào thu công?
Xưa nay mấy kẻ anh hùng,
Mũi tên hòn đạn, đột xung những liều.
Bút nghiên đổi lấy cung đao,
Thuở vào ải Ngọc, chàng Siêu đã già.
Dưới cờ, trên ngựa xông pha,
Nỗi chàng, nỗi thiếp, ai hoà nhỏ to.
Thiếp đành nương cửa vò vò,
Chàng sao lặn lội trình đồ cho quen?
Ngán thay cùng bạn thiếu niên,
Quan sơn nỡ để hàn huyên bao đành.
Thuở ra, liễu chửa chiệu oanh,
Tiếng quyên, rằng hẳn đinh ninh độ về.
Bao ngờ quyên đã dục hè,
Ngày chày ánh ỏi cầm ve góc tường.
Thuở ra, mai chửa chan sương,
Hỏi kỳ, rằng hẳn độ sang đào hồng.
Bao ngờ đào đã tàn bông,
Mai già, thoát đã phù dung lại vừa.
Lũng Sầm khi đợi ban trưa,
Tư bề thôn vắng, lọn giờ chim kêu.
Hán Dương, khi đợi ban chiều,
Hàn Giang nước dẫy cửa triều phôi pha.
Thẩn thơ tháng lọn ngày qua,
Lương nhân vắng đấy, ai là kẻ hay.
Chỉ ngân, nhẫn thiếp đeo tay,
Trâm đầu, ngọc thiếp xưa nay giữ giàng.
Hán soa của thiếp hồi trang,
Gương Tần của thiếp cùng chàng soi chung.
Mượn ai đưa đấy cho cùng,
Tỏ lòng chếch mác, ngụ lòng khát khao.
Thấy hồng thì tưởng thư trao,
Nghe sương thì vội cẩm bào chăm chăm.
Xót người viễn thú xa xăm,
Chăn chiên tuyết lọt, trướng hầm sương in.
Mở phong thư gấm đòi thiên,
Bói tiền gieo, lại nửa tin, nửa ngờ.
Hoàng hôn, trước chái thẫn thờ,
Trăng tròn, gối chếch, lần mơ giấc hoè.
Biếng cài, búi rối dường xe,
Xiêm nghê lỏng lẻo, mình ve võ vàng.
Êm nềm rủ bức mành tương,
Ngày mong tin thước, đêm nương bóng đèn.
Gượng làm quên, lại chẳng quên,
Mối sầu năm diễn, mạch phiền bể khơi.
Đài gương gượng ngắm khi rồi,
Thờ ơ trâm ngọc, đồi hôi mặt duềnh.
Lò vàng gượng đốt đêm thanh,
Hồn tiên mấy giống vẩn quanh khói trầm.
Gượng buồn, mong gảy khúc trầm,
Phím loan lai láng, tri âm lại đành.
Càng buồn mong gảy khúc tranh,
Nước non sầu nặng e mành dây uyên.
Niềm riêng khôn mượn gió truyền,
Càng phen xúc cảnh, càng phen động lòng.
Chiều cổ thụ, giọt hàn song,
Đã giương búa tuyết, lại đồng cưa mưa.
Sương bay sớm ác về trưa,
Dế kêu kẽ vách, kềnh đưa chái nhà.
Phất phơ ngọn chuối ban tà,
Trướng mai gió lọt, thềm hoa nguyệt lồng.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Tủi hoa thẹn nguyệt tất lòng đăm đăm.
Chiều ai biếng chỉ biếng châm.
Biếng dồi, biếng điểm, biếng ngâm, biếng cười.
Nương song, thở vắn, thở dài,
Như nung gan sắt, như mài lòng son.
Giấc nào thẳng, bữa nào ngon,
Hâm sầu làm thuốc, nấu buồn làm thang.
Chơi hoa hoa cũng bẽ bàng,
Dã dề cùng rượu, rượu càng lạt hơi.
Vì chàng chiếc bóng lẻ loi,
Vì chàng đũa ngọc sụt sùi đòi nau.
Trướng chàng nào thiếp đến đâu,
Khăn chàng nào thiếp nhuốm thâu giọt nào.
Đêm đêm luống những chiêm bao,
Ở ăn Lũng Thuỷ, ra vào Hàm Quan.
Say sưa bên gối dưới màn,
Khi mê dường có, khi tàn lại không.
Tin chàng, còn một tấm lòng,
Đăm đăm đã nhớ thì trông lần lần.
Trông chàng, diệu vợi giang tân,
Cỏ yên xanh ngắt, dâu Tần lục om.
Cô thôn, khói toả đòi chòm,
So le trận nhạn về Nam tà tà.
Trông chàng, dịch lộ xa xa,
Mây tuôn non Thục, khói loà bể Ngô.
Ngắt xanh đội lúa mù mù,
Địch đâu lầu Bắc líu lo thét dài.
Trông chàng, cây quạnh, lá rơi,
Bên khơi mai ngả, góc trời cỏ bay.
Ngàn Đông quanh quất khói xây,
Con chim bạt gió ấp cây ẻo sầu.
Trông chàng, sông uốn dường câu,
Về xa thấp thoáng, thuyền đâu hôm chèo.
Tùng, thu, mấy gốc đìu hiu,
Trời Tây khách quạnh, như trêu sầu người.
No trông gốc bể bên trời,
Ải du muôn dặm biết vời là đâu.
Gieo khăn chỉn cậy chước mầu,
Có đường khôn rút, có cầu khôn thông.
Non non nước nước trùng trùng,
Nầy lòng kẻ nhớ, nào lòng người xa.
Hướng dương, lòng thiếp dường hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn dễ tà bóng dương.
Bóng tà thấm thoát thoi vàng,
Đoá hoa nỡ để tuyết sương nên gầy.
Nhìn xem đuôi Đẩu vần xoay,
Duềnh Ngân mờ tỏ, đoá mây lạt nồng.
Càng năm càng lạt má hồng,
Trượng phu sao hãy long đong quê người.
Khi sao hình ảnh chẳng rời,
Khi sao bỡ ngỡ cách vời Sâm Thương.
Gió xuân phảng phảng đưa hương,
Duyên nào Nguỵ Tử, Diêu Hoàng sánh nhau.
Trăng thu vằng vặc in lầu,
Phận nào ả Chức, chàng Ngâu lại vầy.
Phòng không luống phụ đòi ngày,
Phiền xuân chưa vợi, lại đầy sầu thu.
Sầu nên một mối tơ vò,
Rười rười thêm tiếc phận bồ thiết tha.
Tiếc xuân xanh, nỡ để qua,
Gái tơ mấy phút sẩy ra nạ dòng.
Tưởng khi cầm sắc vui chung,
Góc son cợt phấn, lầu hồng chiệu hương.
Vì đâu nên nỗi đa mang,
Nghĩ mình bao nả, thương chàng bấy nhiêu.
Kìa xem đôi én dập dìu,
Trọng mùa ríu rít sương siu đầu rường.
Kìa xem hai cái uyên ương,
Bãi Tần chắp cánh bày hàng với nhau.
Đòi thời thảo mộc biết đâu,
Liền cành có liễu, liền đầu có sen,
Ước sao như vậy bằng nguyền:
Được vầy cánh nọ, được liền cành kia.
Thôi thôi ấm lạnh quản gì,
Thế tình khi hợp, khi ly sự thường,
Khuyên chàng săm sắn tuyết sương,
Khuyên chàng hai chữ cần vương vẹn tròn.
Biển vàng chói chói đề son,
Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung.
Nay mừng trăm trận thu công,
Truyền tên ải Bắc, treo cung non Đoài.
Khải ca lừng lẫy trong ngoài,
Tiệc dâng bệ Hán, thơ bài non Yên.
Đồng hưu rạng chép thẻ quyên,
Danh thơm gác Phượng, dấu truyền đền Lân.
Chàng đà gặp hội phong vân,
Phần vinh thiếp cũng được nhuần ơn sang.
Vì chàng, cởi áo vội vàng,
Vì chàng, lần chuốc chén vàng vơi vơi.
Vì chàng, trang điểm tốt tươi,
Vì chàng, chải chuốt, rũ hơi phong trần.
Trước sau mấy nỗi ân cần,
Dã lòng cựu thoại, hoán niềm tân thanh.
Bõ khi chàng mải công danh,
Bõ khi thiếp luống một mình đêm thâu.
Đã mừng duyên sánh bạc đầu,
Lại mừng gia nghiệp cơ cầu y quan.
Đã mừng trên đội đức Càn,
Lại mừng nước trị, nhà an đời đời.


Đây là bài lược dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn.

Nguồn: Phạm Trọng Chánh, “Nguyễn Khản (1734-1786) quan thượng thư tài hoa họ Nguyễn Tiên Điền”, 2-2015