Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Trần
2 bài trả lời: 2 bản dịch
4 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 02/08/2008 01:59

言懷

頂天立地丈夫身,
志氣堂堂邁等倫。
彈鋏肯縻齊策士,
著鞭須向晉能臣。
機藏莒火兼淮雪,
績著唐煙與漢雲。
留得乾坤忠義節,
高談千古一完人。

 

Ngôn hoài

Đính thiên lập địa trượng phu thân.
Chí khí đường đường mại đẳng luân.
Đàn giáp khẳng mi Tề sách sĩ,
Trước tiên tu hướng Tấn năng thần.
Cơ tàng Cử hoả kiêm Hoài tuyết,
Tích trứ Đường yên dữ Hán vân.
Lưu đắc càn khôn trung nghĩa tiết,
Cao đàm thiên cổ nhất hoàn nhân.

 

Dịch nghĩa

Thân trượng phu đội trời đạp đất,
Chí khí phải cao vượt người cùng lứa.
Võ kiếm không chịu bó buộc như mưu sĩ nước Tề,
Ra roi nên noi theo bề tôi giỏi nhà Tấn.
Cơ mưu giấu nơi lửa nước Cử và tuyết sông Hoài,
Công lao nổi giữa khói đời Đường và mây triều Hán.
Để lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất,
Thì đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người toàn vẹn nghìn xưa.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Tú Châu

Đội trời đạp đất chốn trần ai,
Chí khí đường đường há chịu sai.
Vỗ kiếm, khách Tề ngoài trói buộc,
Ra roi, tôi Tấn phận làm trai.
Tuyết Hoài, lửa Cử tàng công lớn,
Mây Hán, sương Đường tỏ chước tài.
Lưu tiết nghĩa trung cùng vũ trụ,
Vẹn tròn truyền lại tới lâu dài.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Kế Bính

Đội giời đạp đất một con người,
Chí khí đường đường kể mấy mươi.
Há chịu khách Tề khua kiếm chực,
Nào thua tôi Tấn máu roi chơi.
Mưa Hoài, lửa Cử khôn nghìn chước,
Gác Hán, lầu Đường thoả một thời.
Trung nghĩa đứng vòng giời đất rộng,
Tiếng thơm khen ngợi để muôn đời.


Nguồn: Phan Kế Bính, Lê Văn Phúc, Hưng Đạo Vương (Hồi 11), NXB Văn học, 2017 (in theo bản năm 1935 của Đông Kinh ấn quán)
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời