Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi hongha83 vào 08/08/2012 14:45

宿四岐港口

天寒子夜玉繩低,
月色朦朧照淺溪。
潮退水痕初出石,
枕邊時聽水禽啼。

 

Túc Tứ Kỳ cảng khẩu

Thiên hàn tý dạ Ngọc Thằng đê,
Nguyệt sắc mông lung chiếu thiển khê.
Triều thoái thuỷ ngân sơ xuất thạch,
Chẩm biên thời thính thuỷ cầm đề.

 

Dịch nghĩa

Trời lạnh nửa đêm, sao Ngọc Thằng xế thấp
Bóng trăng tờ mờ rọi xuống dòng khe cạn
Nước thuỷ triều lui, ngấn nước vừa lòi đá
Bên tai thường nghe tiếng chim nước kêu


Tứ Kỳ là tên cửa sông, có lẽ nằm ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Thước

Ngọc Thằng xế thấp lúc canh khuya
Bóng nguyệt tờ mờ rọi đáy khe
Triều rút đá vừa nhô ngấn nước
Tiếng chim bên gối vẫn thường nghe


Nguồn: Hoàng Việt thi tuyển, Tồn Am Bùi Huy Bích, NXB Văn học, 2007
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Xế thấp Ngọc Thằng lúc nửa đêm,
Bóng trăng mờ tỏ rọi dòng khe,
Triều lui, ngấn nước vừa lòi đá,
Chim hót bên tai thường vẫn nghe.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời