Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
3 bài trả lời: 3 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 16/07/2018 23:18, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 17/07/2018 11:27

親征復禮州刁吉罕

狂賊敢逋誅,
邊氓久傒蘇。
叛臣從古有,
險地自今無。
草木驚風鶴,
山川入版圖。
題詩刻巖石,
鎮我越西隅。

 

Thân chinh Phục Lễ châu Điêu Cát Hãn

Cuồng tặc cảm bô tru,
Biên manh cửu hề tô.
Bạn thần tòng cổ hữu,
Hiểm địa tự kim vô.
Thảo mộc kinh phong hạc,
Sơn xuyên nhập bản đồ.
Đề thi khắc nham thạch,
Trấn ngã Việt tây ngu (ngung).

 

Dịch nghĩa

Giặc cuồng há thoát tội chết,
Dân biên viễn đã lâu mong được hồi sinh.
Bọn phản thần từ xưa đã có,
Vùng đất hiểm nay chẳng còn.
Cây cỏ làm kinh hãi quân giặc,
Sông núi đã nhập vào bản đồ.
Đề thơ nơi vách đá cao,
Để trấn giữ phía tây của nước Việt.


Tự: “Di Địch chi vi biên hoạn, tự cổ hữu chi. Hán chi Hung Nô, Đường chi Đột Quyết, ngã tây Việt chi Mường Lễ chư Man thị dã. Khoảnh do Trần, Hồ suy chính, phiên thần bạt hỗ. Cát Hãn nữu ư cựu tập phụ cố phất thuyên. Dư kim suất sư vãng chinh thuỷ lục tịnh tiến, nhất cử tựu bình. Nhân tả nhất luật, khắc chi vu thạch, dĩ giới hậu thế Man tù chi ngạnh hoá giả. Vân...” 夷狄之為邊患,自古有之。漢之匈奴,唐之突厥,我西越之忙禮諸蠻是也。頃由陳,胡衰政,藩臣跋扈。吉罕狃於舊習負固弗悛。予今率師往征水陸並進,一舉就平。因寫一律,刻之于石,以戒後世蠻酋之梗化者。云 (Di Địch là mối lo biên giới, từ xưa đã có. Như Hung Nô nhà Hán, Đột Quyết nhà Đường, các man ở Mường Lễ ở phía tây nước Việt ta là thế. Lúc trước do chính sự nhà Trần Hồ suy vi, các phiên thần hoành hành hung bạo. Cát Hãn quen thói cũ, cậy vào nơi hiểm cố không hối cải. Ta nay xuất quân đi đánh, quân thuỷ bộ cùng tiến, một trận là dẹp yên. Nhân đó viết thơ khắc vào đá, để răn kẻ Man tù ương ngạnh đời sau. Thơ rằng...).

Lạc khoản: “Tân Hợi quý đông cát nhật, Ngọc Hoa động chủ đề” 辛亥季冬吉日,玉華洞主題 (Ngày tốt tháng quý đông (tháng 12) năm Tân Hợi 1431, Ngọc Hoa động chủ đề).

Bài thơ này được khắc trên vách núi ở xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Sau khi giải phóng lòng hồ để xây dựng Thuỷ điện Sơn La, khối đá này được di dời và hiện đặt tại Đền thờ Lê Lợi, cách vị trí ban đầu khoảng 500m. Ngoài ra, bia còn một phó bản đặt ở đình Nam Hương, cạnh hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phần lạc khoản đề Ngọc Hoa động chủ, có thể là hiệu khác Lê Thái Tổ dùng, ngoài Lam Sơn động chủ. Sách Hoàng Việt thi tuyển chép bài thơ này đề tác giả là Lê Thái Tổ.

Nguồn:
1. Bản chụp văn bia tại đình Nam Hương, Hà Nội
2. Nguyễn Kim Măng, “Thêm một bài thơ khắc trên đá của vua Lê Thái Tổ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2(93), 2009

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nam Long

Trốn chết chăng man cuồng?
Dân biên hằng ngóng trông.
Nghịch thần xưa đã có,
Đất hiểm giờ như không.
Gió hạc rạp cây cỏ,
Bản đồ thêm núi sông.
Đề thơ khắc vách đá,
Trấn Việt ta tây ngung.

Du ư nghệ
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Giặc cuồng dám trốn chết,
Dân biên chờ lâu rồi.
Phản thần từ xưa có,
Đất hiểm tự nay thôi.
Cỏ cây kinh tiếng gió,
Sông núi vào bản đồ.
Đề thơ khắc đá núi,
Trấn phía tây cõi bờ.


Nguồn: Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 4, trang 375, NXB Thuận Hoá, 2006
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Há thoát tội chết, giặc man cuồng,
Dân biên từ lâu mong sinh tồn.
Phản thần bọn ấy từ xưa có,
Vùng đất hiểm nay chẳng còn luôn.
Cỏ cây làm hãi kinh quân giặc,
Bản đồ đã nhập núi sông luồng.
Nơi vách đá cao đề thơ đó,
Giữ vững phía tây nước Việt Thường.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời