Than ôi!
Vùng Quế Hải gió tanh mưa máu, áng ba đào vì tình thế xui nên;
Cõi Viêm Bang núi thịt cồn xương, nỗi bi thảm xưa nay chưa mấy có.

Ngoài ngàn dặm trông về cố quốc, non sầu bể thảm, quặn ruột gan như chín khúc tơ vò;
Cuộc trăm năm tưởng tới đồng tâm, cỏ úa hoa dàu, dẫu sắt đá cũng hai hàng lệ nhỏ.

Anh chị em ta! Gặp lúc:
Vận nước suy vi;
Giống nòi cực khổ.

Quân quỷ trắng già tay bóc lột, rày sưu mai thuế, bóc tận xương da;
Lũ lằn xanh bu miếng đỉnh chung, bán nước buôn dân, kể chi máu mủ.

Tuy cách mạng đã từng phen bồng bột, tiếc nỗi tâm chí có thừa mà phương châm chưa đủ, sức ve mình chấu đành chịu khoanh tay;
Thôi thì giày bừa hết cách, đàn áp đủ đường, dàm ngựa ách trâu hãy còn chịu cổ.

Tụi tân học đua nhau Âu hoá, bình đẳng tự do thoa cửa miệng, thực lòng vì nước, trăm người chưa có một, ngắm tiền đồ thêm ngán bọn Tây du;
Bọn cựu Nho toan kế Duy Tân, anh hùng lãnh tụ chất đáy lòng, thực dạ vì nòi, xóc sổ được bao nhiêu, thôi đại sự chắc chi người Đông độ!

Nay gặp lúc phong trào sôi nổi, khắp năm châu trống dục kèn kêu;
Nay gặp người chỉ lối đưa đường, cùng bốn bể triều dâng sóng vỗ.

Rừng thế giới ta góp cây;
Bão cách mạng ta góp gió.

Màn phấn đấu khởi tháng hai năm ngoái, cõi Yên Báy dậy một phen oanh liệt, máu quốc dân phun nhuộm đám sa trường;
Cuộc biểu tình liền tháng chín vừa đây, đất Hồng Lam gầy mất triệu tung hoành, hồn Tổ quốc kêu vang kèn dụng võ.

Nhân dân Việt đã quyết chí tiêm cừu;
Đế quốc Pháp phải già tay khủng bố.

Thương những kẻ gan vàng dạ sắt, lăn lóc tuyên truyền vận động, bỗng rủi cơ mưu bại lộ, nhẹ lông hồng khi lên máy đoạn đầu;
Xót những người rách áo đói cơm, ước ao hạnh phúc dân quyền, mà đem tính mạng hy sinh, phá hang cọp để tìm sinh lộ.

Thương những kẻ trong trường thương mại, phá gia nghiệp ngàn vàng tư trợ, án tình nghi không quản lúc kềm tra!
Xót những người giữa áng binh nhung, rắp ranh thân Hán tâm Hàn, chước đảo qua gầy mấy trận tung hoành, hồn nghĩa liệt nhoáng theo hòn đạn nổ.

Bạn má phấn phất cờ nương tử, chí tang bồng, duyên hồ thỉ, phận liễu bồ vùi giữa đám binh đao;
Bọn đầu xanh kết đội thiếu niên, đi diễn thuyết, phát truyền đơn, đem sinh tử để ra ngoài mệnh số.

Thương những kẻ Hoả Lò, Khám Lớn, mài mật chống cùng oai võ, tiếc nỗi gan vàng mà mệnh bạc, hồn lìa theo ngọn búa đầu rơi!
Xót những người Lao Bảo, Côn Lôn, bấm gan chịu với phong trần, gặp nơi nước biếc non xanh, xác đành gởi ngàn cây nội cỏ.

Ôi! Thương ôi!
Tấc dạ trung trinh;
Tấm lòng kiên cố.

Những cái chết đáng thương, đáng tiếc, đáng dạ nhớ lòng ghi;
Những cái chết đáng quý, đáng yêu, đáng bia đồng tượng gỗ.

Người ấy ví còn sống lại, còn hy sinh cho quốc gia xã hội còn nhiều;
Thân kia dầu có chết đi, cũng ảnh hưởng cho cách mạng đồng bào chẳng nhỏ!

Anh em, chị em tôi!
Tủi phận quê người;
Chạnh niềm nước cũ.

Đọc đến chữ ‘‘tinh thần bất tử’’ dạ đinh ninh kẻ khuất với người còn;
Gẫm đến câu “khí phách trường tồn’’, lễ truy điệu biểu tấm lòng ái mộ.

Hỡi ôi! Thương thay!


Bài văn tế này được tác giả làm cho các kiều bào ở Xiêm (Thái Lan) truy điệu các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình trong các cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Nghệ Tĩnh. Lễ truy điệu tổ chức tại Sa Khôn khoảng năm 1931 ở miền tây bắc Xiêm, kiều bào kéo đến dự rất đông. Bài văn tế này sau đó được đăng trên tờ Tiếng chuông của đoàn thể cách mạng Việt kiều bên đó.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968