Trang trong tổng số 11 trang (101 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Phàm thánh bất dị (Tuệ Trung thượng sĩ): Nghĩa từ

瞥起星兒憎愛情,
似覓饅頭而棄麵。
- 瞥miết [piē]: là động từ với nghĩa “Liếc, lườm”, nhưng trong câu này lại là phó từ làm trạng ngữ cho động từ 起 nên có nghĩa: 2.暫現,很快地出現一下。3.突然;倏忽。(Hán ngữ đại từ điển)
- 星儿 xīng ér 1.一點兒。形容少。2.指細碎的東西。chỉ vật rất nhỏ. (Hán ngữ đại từ điển)
Đại ý: Bất chợt khởi lên chút tình cảm thương và ghét, thì cũng giống như tìm (muốn có) bánh mà bỏ bột (là nguyên liệu làm ra bánh).

非心無是亦無非,
無見非邪也非正。
- 非心phi tâm ☆ Lòng dạ xấu xa. Ở đây không thể sử dụng nghĩa này, mà 非 được dùng như 無, chẳng có tâm phân biệt.
- 無見 vô kiến: không có kiến chấp.
Có thể thấy từ 非 và 無 được Ngài Tuệ Trung sử dụng nghĩa phủ định như nhau.
Đại ý: Nếu chẳng có tâm phân biệt thì không có (thấy) đúng cũng không có (thấy) sai, nếu không có kiến chấp thì chẳng có (thấy) tà vạy cũng chẳng có (thấy) chân chánh.

覺他覺自拔迷途,
遍界清涼甦熱病。
- 甦tô [sū]: Sống lại, nhưng còn một nghĩa động từ nữa là: 4.緩解;免除。(Hán ngữ đại từ điển)
Đại ý: Việc làm giác ngộ cho người khác và giác ngộ cho chính mình rời đường mê, (làm cho) khắp thế giới mát mẻ xua tan đi cơn bệnh nóng bức.


Trong văn thơ của Ngài Tuệ Trung bàn bạc những câu nói phá chấp, vượt khỏi định kiến ràng buộc.

Xin được góp ý!

Ảnh đại diện

Điệu tiên sư (Tuệ Trung thượng sĩ): Về “Hồ hà”

Suy nghĩ một lúc chợt hiểu thế này, Bạn thấy ổn thì vui lắm. Nếu đã chính xác là 胡何有 thì 胡 không kết hợp với 何, mà 胡 là phó từ phản vấn với dùng như 豈: Há, lẽ nào; 何 là đại từ nghi vấn: Cái gì, việc gì; 有 là động từ.

Cụm từ có nghĩa: Há có việc gì sao? Chẳng lẽ có gì ư?

Ảnh đại diện

Điệu tiên sư (Tuệ Trung thượng sĩ): Xin hỏi

Cám ơn Bạn nhiều. Bạn có thể giải thích “Hà hồ” có nghĩa gì không ạ? Thật sự chưa gặp cách dùng từ thế này!

- 打過 dǎ guò 放過去。(Hán ngữ đại từ điển)
打 dǎ/dá (nghĩa thứ) 38.與某些動詞結合為複詞,表示進行之意。如:打掃;打扮;打開;打探。
Vậy 過 nhất định là động từ: quá [guò] ① Qua, đi qua.

Xin được nghe ý kiến để học hỏi nhiều ạ!

Ảnh đại diện

Hí Trí Viễn thiền sư khán kinh tả nghĩa (Tuệ Trung thượng sĩ): Cảm nhận ý thơ

獰龍
Ninh long là con rồng dữ, dụ cho đối tượng đặc biệt, trong trường hợp này có thể chỉ cho chân tâm.

驢年
lư niên ☸ Năm lừa. Trong 12 địa chi, mỗi địa chi đều được tượng trưng bằng một con vật, trong ấy không có con lừa, tức không có năm con lừa. Thiền tông dùng từ này để chỉ cho một thời hạn không bao giờ có.

đại ý bài thơ:
Ngài Tuệ Trung trêu đùa Ngài Trí Viễn là một học giả, luôn suy tìm trên văn tự ngữ ngôn, dùng hình ảnh bơi chiếc thuyền câu trong biển học vấn với sóng và gió, và dù rất quý Ngài Trí Viễn nhiều lần thả cần câu, nhưng gặp lúc câu được con rồng dữ lên thì không biết đến bao giờ, chắc là phải đến năm lừa. Để nói rằng dù Ngài Trí Viễn có học đến bao nhiêu đi chăng nữa, thì trên văn tự khó có thể lãnh hội được tự tâm mình.

Ảnh đại diện

Điệu tiên sư (Tuệ Trung thượng sĩ): Xem lại từ

- Tất lật
篳篥: tức 觱篥 [bìlì] Hán Việt: TẤT LẬT. khèn Tacta (nhạc cụ dạng ống thời xưa, dùng trúc làm ống, lau sậy làm miệng, từ Tây vực thâm nhập vào Trung quốc vào thời Hán)。古代管樂器,用竹做管,用蘆葦做嘴,漢代從西域傳入。

- Hồ hành
胡行: 胡作非為 [húzuòfēiwéi] Hán Việt: HỒ TÁC PHI VI: làm xằng làm bậy; làm ẩu làm càng。不顧法紀或輿論,任意行動。

- Đảo kị
+ 道家高人張果老「倒騎驢」。是因為他發現塵世之人世風日下,離「道」越來越遠。故以「倒騎驢」來警喻世人。這才是張果老「倒騎驢」的真正原因。
+ Các vị Tổ Thiền Tông thường dùng hình ảnh cưỡi ngược, nói lên quan điểm trái với thường tình, nhằm dẹp tan sự nhận thức theo quan niệm vốn có sẵn.

Tạm dịch:
(Tiên sư) Một khúc hát “Vô sanh” khi hát xong,
Cầm ngang sáo trúc trở về quê xưa.
Phóng qua trên đầu (hành động ấy) có gì là càn bậy,
Một con trâu đất mặc tình cưỡi ngược.

Đại ý ca ngợi Tiên sư là người thong dong tự tại không vướng vào quan niệm thế thường.

Ảnh đại diện

Chiếu thân (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Ban Nhược

Sứt đầu mẻ trán để mặc chiếc kim bào,
Khoảng 5, 6 năm nay chỉ là lẩn quẩn nơi nhà kho, máng cỏ.
Dẫu cho anh là kẻ cao siêu xuất chúng đến đâu,
Thì mỗi lần buông xuống đi là mỗi lần anh vượt lên cao thêm.

Ảnh đại diện

An định thời tiết (Tuệ Trung thượng sĩ): Nương sinh diện

過去有句詩偈:「若人識得娘生面,草木叢林盡放光。」假如我們認識到父母生我之前的本來面目,草木叢林都放光.
Nghĩa là: Nếu như chúng ta nhận biết được gương mặt xưa nay trước khi cha mẹ sanh ra, thì cỏ cây rừng rậm đều phát ra ánh sáng. Theo đó thì từ 'Nương sanh diện' có thể hiểu chuẩn xác hơn. Xin được góp ý!

Ảnh đại diện

Giác tự thần chung (Nguyễn Khuyến): Cảm nhận ý thơ

Buổi sáng yên lặng trong sương mù dày đặc, tiếng chuông chùa từ đâu đưa đến, ngân nga vào khoảng không, vương nhẹ trên những cánh hoa tuyết, cảnh vật yên tỉnh lắng đọng, ngay cảnh vật ấy tâm trạng tỉnh sáng còn hỏi chi ông chủ, vì chính sự tỉnh sáng ấy đã là chủ nhân ông rồi. Việc này chỉ có tự mình cảm nhận không thể bày tỏ cùng ai, nên khó nói ý này cho ông tăng được.

Ảnh đại diện

Cáo tật thị chúng (Mãn Giác thiền sư): Bản dịch của Thien Thanh

Xuân đến trăm hoa nở,
Xuân đi trăm hoa phai.
Trước mắt việc trôi mãi,
Trên đầu già đến ngay.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Trước sân còn đấy một cành mai.

Ảnh đại diện

Dục Thuý sơn Linh Tế tháp ký (Trương Hán Siêu): Cảm xúc

Bản dịch rất hay, tâm tình của người xưa được gợi lên tha thiết!

Trang trong tổng số 11 trang (101 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: