Trang trong tổng số 17 trang (161 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Sơ xuân tiểu vũ (Hàn Dũ): Nghĩa câu cuối

Bạn hà Như dịch nghĩa “Còn đẹp hơn cả (cuối xuân) lúc ngọn liễu mơn mởn như khói chùm khắp thành đô.” đúng hơn câu dịch nghĩa trên bài “Vì khắp kinh đô các hàng liễu như mờ trong sương khói
Nghĩa chữ 絕勝 là vượt trội hơn hẳn, đẹp hơn nhiều. Là so sánh cảnh lúc này (mưa bụi đầu xuân) với cảnh cuối xuân (khắp kinh thành những cây liễu như chìm trong sương khói).


Ảnh đại diện

Đăng sơn (Lý Thiệp): Chú thích

Bài thơ này được chọn làm bài đọc thêm trong chương trình ngữ văn tiểu học ở Hoa lục.
Chữ “phù sinh” có thể chú thích như ở baike.baidu là ổn: 浮生: Chữ lấy trong sách “Trang Tử”: “其生若浮” Nghĩa là: đời người trôi nổi, không ổn định — giống như bèo dạt không rễ, không thể tự mình kiểm soát.


Ảnh đại diện

Đăng sơn (Lý Thiệp): Chú thích chữ “phù sinh”

Trên bài có chú thích chữ phù sinh
“Cuộc đời bềnh bồng, trôi nổi (theo quan niệm của những người yếm thế).”
Zdic chú thích chữ này như sau
浮生 (汉语词语)
浮生是一个汉语词汇,拼音为fú shēng,基本意思是空虚不实的人生,指人生。古代老庄学派认为人生在世空虚无定,故称人生为浮生。出自《庄子·外篇·刻意第十五》。
Đại ý: “浮生” ý chỉ là cuộc đời hư ảo, không thực. Lão–Trang cho rằng đời người sống trên thế gian là hư vô, vô định, vì vậy gọi cuộc đời là “浮生”.
Tôi nghĩ phần trong ngoặc " (theo quan niệm của những người yếm thế)” là rất chủ quan, và không cần thiết


Ảnh đại diện

Tương hành tạp vịnh - Văn địch (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Tam Ngng

Tha hương làm khách mãi,
Nghe Chiết liễu sao đành.
Buồn như sông chín khúc,
Ôm thành sông lượn quanh.


Ảnh đại diện

Nhâm Dần niên lục nguyệt tác (Trần Nguyên Đán): Bản dịch của Tam Ngng

Năm qua hè hạn, thu mưa dầm,
Lúa héo mạ hư hoạ dập dồn
Ba vạn sách đều vô dụng cả,
Bạc đầu còn phụ nỗi thương dân.


Ảnh đại diện

Thôn Nam sơn tiểu khế (Chu Văn An): Nghĩa câu 4

Câu 4 được dịch nghĩa là “Trước sân, hoa đỏ như máu, một chiếc oanh kêu.”
Nguyên tác:
庭前噴血一鶯鳴。
Đình tiền phún huyết nhất oanh minh.
Cả câu không có chữ “hoa” nào cả, nên tôi cho rằng dịch nghĩa như trên (hoa rỏ máu) là suy đoán chủ quan, thiếu cơ sở.
Câu này theo tôi nên hiểu là Trước sân, một con oanh kêu [thảm thiết như muốn] trào máu.
Chú ý rằng đình 庭 (sân) cũng đồng âm với đình 廷 (triều đình). Ta nhớ rằng Chu Văn An từng trước triều đình dâng sớ thống thiết đòi chém đầu bảy nịnh thần để chấn hưng đất nước, nhưng không được vua nghe theo, ông từ quan về ẩn cư. Phải chăng Chu Văn An muốn mượn tiếng oanh trào máu để bày tỏ tâm trạng của mình? Hình ảnh trào máu xuất hiện đột ngột, tương phản mạnh mẽ với sự nhàn tản, thanh u ở ba câu đầu, làm nổi bật tâm trạng phức tạp: bề ngoài thoát tục, nhưng bên trong vẫn canh cánh nỗi niềm đất nước.


Ảnh đại diện

Ly hạ trùng dương cúc (Viên Chiếu thiền sư): Bản dịch của Tamg Ngng

Bên dậu cúc tươi tắn,
Đầu cành oanh dịu dàng.
Ngày lên nắng vàng chiếu,
Đêm xuống trăng ngà giăng.


Ảnh đại diện

Điếu đông các đại học sĩ Phan công Thanh Giản (Nguyễn Đình Chiểu): Nghĩa hai câu cuối

Trong bản dịch nghĩa trên đây, hai câu cuối được dịch là:
“Có trời phán xét chuyện mất sáu tỉnh mà ông đã gây nên,
Ông khó mà có thể thung dung thành vị thần tựu nghĩa được!”
Không biết ad tham khảo bản dịch này từ đâu, nhưng rõ ràng ý nghĩa hoàn toàn ngược với giọng điệu tôn kính và tiếc thương của 6 câu trước.
Như mọi người biết, việc đánh giá Phan Thanh Giản hiện nay chưa thống nhất. Khuynh hướng “chính thống” (của nhiều sử gia Hà Nội) vẫn kết tội ông yếu hèn đầu hàng Pháp, phải chịu trách nhiệm việc mất Nam kì lục tỉnh. Phải chăng người dịch nghĩa chịu ảnh hưởng của khuynh hướng đánh giá này nên đã cố ép nghĩa hai câu cuối ra như vậy? Vì thực sự trên văn bản, theo tôi, nghĩa khác hẳn.
Câu 7:
- 有天 hữu thiên: có trời (chứng giám). 六省 tức 南圻六省 Nam kì lục tỉnh: là tên gọi miền nam thời nhà Nguyễn chỉ 6 tỉnh ở Nam kì. 存亡事 tồn vong sự: sự mất còn (sáu tỉnh). Phan Thanh Giản từng đại diện triều đình Huế kí Hoà ước Nhâm Tuất (1862) trong đó có điều khoản nhượng 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn (Côn Đảo) cho Pháp. Khi Phan Thanh Giản đang giữ chức Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) thì Pháp đánh chiếm Vĩnh Long. Phan Thanh Giản đầu hàng, uống thuốc độc tự tử. Ông đã bị triều đình Huế quy tội trong việc để mất 6 tỉnh. Nguyễn Đình Chiểu không tiện nói thẳng sự quy kết ấy bất công, nhưng rõ ràng có ý bênh vực Phan Thanh Giản, rằng người kết án sai thì còn có trời.
Câu 8:
- 難得 nan đắc: khó có được, hiếm có, đáng quý. 從容 tùng dung: thung dung. 就義神 tựu nghĩa thần: vị thần chết vì nghĩa lớn.
Tóm tắt, nghĩa hai câu này, theo tôi là:
Có trời soi xét chuyện lục tỉnh còn mất,
Khó ai được như ông, thong dong vì nghĩa lớn mà hoá thần.
Toàn bài là một giọng tôn kính, tiếc thương; đúng nghĩa một bài thơ phúng điếu. Không hề có chuyện trách móc, kết án gì ở đây cả. Cụ Đồ Chiếu thẳng thắn ngay tình, đâu có kiểu xỏ ngọt, ban đầu khen ngợi rồi sau đó chửi xỏ?


Ảnh đại diện

Hương thí tiểu trung thư trình hữu nhân (Nguyễn Văn Giao): Bản dịch của Tam Ngng

Sự đời đâu dễ luôn như ý,
Quân tử nào ham nổi vượt người.
May mắn thân này còn tuổi trẻ,
Đỗ thi cha mẹ cũng vui tươi.


Ảnh đại diện

Đối kính (Nguyễn Văn Giao): Bản dịch của Tam Ngng

Soi kính nhổ hàng ria mép xong,
Mừng ta nay/trước vẫn tương đồng.
Bồi hồi hai mặt nhìn không nói.
Một tấm lòng son soi thấu không.


Trang trong tổng số 17 trang (161 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: