Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Chưa có đánh giá nào
Từ khoá: chữa lành (65) Cuộc sống (107) hạnh phúc (122) kinh Phật (76) suy ngẫm (79)
Đăng ngày 01/02/2025 11:02, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 11/02/2025 11:08, số lượt xem: 556

Kinh văn Phật dạy tỏ tường
Dụ ngôn bốn loại Rắn – Người thế gian
Có nọc có độc nguy nàn
Không nọc không độc mà đầy thiện tâm:

1.
Có người sân hận mong manh
Mau giận mau hết để dành gì đâu?
Cuộc đời dù trải bể dâu
Vẫn luôn giữ lấy lòng sau nhẹ nhàng

2.
Loài hai nọc độc chẳng màng
Như người chậm giận nhưng càng thâm sâu
Giận không phai giận buộc lâu
Chẳng nọc nhưng hiểm chẳng câu thứ gì!

3.
Rồi loài nọc độc sân si
Mau giận giữ mãi sầu bi lâu ngày
Như người độc ác lòng đầy
Hận thù chất chứa phút giây không tàn.

4.
Cuối cùng bậc trí hiền ngoan
Không giận không oán bình an trong lòng
Như loài rắn chẳng độc phong
Cuộc đời nhẹ bước thong dong chẳng phiền

5.
Bốn loài bốn kiểu thật hiền
Ngẫm ra bốn hạng trong miền nhân gian
Giữ tâm tĩnh lặng thanh nhàn
Đoạn lìa phẫn nộ an hoà đường tu

6.
Tâm từ nuôi dưỡng chân như
Giữ lòng thanh thản bốn mùa thiện tâm
Cõi đời dẫu lắm thăng trầm
Giữ lòng chánh đạo muôn phần bình an.

Trong năm Ất Tỵ, hình ảnh con rắn mang nhiều tầng ý nghĩa, vừa bí ẩn, vừa sắc sảo. Lời dạy của Đức Phật về bốn loại rắn - tượng trưng cho bốn hạng người trong đời - không chỉ là bài học về sự nhận biết bản chất con người mà còn là tấm gương phản chiếu tâm hồn. Qua từng hình tượng, như lời nhắc nhở về sự tỉnh thức và trí tuệ trong cuộc sống.

Anguttara Nikaya, Chapter IV- The Four Dharmas, XI - The Clouds and Rains, X – 110: Vipers
English: Bhikkhu Bodhi
1. “Bhikkhus, there are these four kinds of vipers. What four? The one whose venom is quick to come up but not virulent; the one whose venom is virulent but not quick to come up; the one whose venom is both quick to come up and virulent; and the one whose venom is neither quick to come up nor virulent. These are the four kinds of vipers.
2. So too, there are these four kinds of persons similar to vipers found existing in the world. What four? The one whose venom is quick to come up but not virulent; the one whose venom is virulent but not quick to come up; the one whose venom is both quick to come up and virulent; and the one whose venom is neither quick to come up nor virulent.
3. (1) “And how, bhikkhus, is a person one whose venom is quick to come up but not virulent? Here, someone often becomes angry, but his anger does not linger for a long time. It is in this way that a person is one whose venom is quick to come up but not virulent. So, I say, this person is just like a viper whose venom is quick to come up but not virulent.
4. (2) “And how is a person one whose venom is virulent but not quick to come up?
Here, someone does not often become angry, but his anger lingers for a long time. It is in this way that a person is one whose venom is virulent but not quick to come up. So, I say, this person is just like a viper whose venom is virulent but not quick to come up.
5. (3) “And how is a person one whose venom is both quick to come up and virulent?
Here, someone often becomes angry, and his anger lingers for a long time. It is in this way that a person is one whose venom is both quick to come up and virulent. So, I say, this person is just like a viper whose venom is both quick to come up and virulent.
6. (4) “And how is a person one whose venom is neither quick to come up nor virulent?
Here, someone does not often become angry, and his anger does not linger for a long time. It is in this way that a person is one whose venom is neither quick to come up nor virulent. So, I say, this person is just like a viper whose venom is neither quick to come up nor virulent.
“These, bhikkhus, are the four kinds of persons similar to vipers found existing in the world.”

Việt ngữ: Trưởng lão Hoà thượng Thích Minh Châu
1. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn. Thế nào là bốn?
Loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc; loại ác độc nhưng không nọc độc; loại có nọc độc và ác độc; loại không có nọc độc, không có ác độc. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn độc này.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại rắn này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Hạng người có nọc độc nhưng không ác độc; hạng người ác độc nhưng không nọc độc; hạng người có nọc độc, có ác độc; hạng người không có nọc độc, không có ác độc.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc… giống như ví dụ ấy.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc và có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ và phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc và có ác độc… giống như ví dụ ấy.
6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không có nọc độc và không có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ và phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có nọc độc, và không có ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn không có nọc độc, không có ác độc ấy, Ta nói rằng, hạng người này giống như ví dụ ấy.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.