NGUYỄN MINH HÙNG
Khai sinh: 01.01.1959; quê quán: Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hiện sống ở tại Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Dạy học.
* Tác phẩm in riêng:
- Chân trời, Thơ, NXB Đà Nẵng, 2002 - Tặng thưởng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng năm 2002; Giải thưởng Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng lần thứ I, 1997-2005.
- Văn chương nhìn từ góc sân trường, Tiểu luận phê bình, NXB Văn Học, 2003 - Tặng thưởng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng.
- Cảm nhận văn chương - Ngôi thứ tư số ít, Tiểu luận phê bình, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 - Tặng thưởng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng năm 2006; Giải thưởng Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng lần thứ II, 2005 – 2010.
- Thiên di, Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2014 - Tặng thưởng Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng năm 2014; Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc các Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam năm 2014; Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng lần thứ III, 2011-2015.
- Tặng phẩm bài viết xuất sắc báo Văn nghệ trẻ năm 1996 của Hội Nhà văn Việt Nam; Giải thưởng Cuộc thi sáng tác Văn học - Nghệ thuật của UBND thành phố Đà Nẵng 1998 – 2000; Giải thưởng cuộc thi viết về Mối tình đầu, Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay năm 1999…
Tập thơ THIÊN DI của NGUYỄN MINH HÙNG
Lê Minh Quốc
(nguồn:http://phunuonline.com.vn/nguoi-yeu-sach/tac-pham-va-du-luan/thien-di/a126194.html)
Sau tập thơ Chân trời in năm 2002, đến nay nhà thơ Nguyễn Minh Hùng mới có tập Thiên di (NXB Hội Nhà văn).
Giải thích nhan đề tập thơ, anh cho biết: “Trên đường thiên lí, loài chim di trú trải qua nhiều cảnh tượng huy hoàng và rủi ro, bất trắc. Chúng bị rình rập bởi giông bão, cái đói, bệnh tật, già yếu, phường săn và sự huỷ hoại của bầy đàn… Đối với loài thiên di, quê hương là khái niệm có ý nghĩa nhưng đất sống, sự sống cao hơn “sự tồn tại”, lại mang một ý nghĩa khác. Thân phận người - nhất là nghệ sĩ - phải chăng là một cánh thiên di? Trong “không gian bay” diệu vợi ấy, số phận Cái Đẹp mong manh và vĩnh hằng ước muốn chất chứa qua chữ và kiểu cấu trúc”.
Thiết nghĩ, đó cũng là quan niệm về thơ của Nguyễn Minh Hùng.
Có những nhà thơ viết được nhiều câu thơ hay nhưng tự họ không có khả năng lý luận. Nguyễn Minh Hùng lại khác. Hơn mười năm trước, anh đã viết các tập Cảm nhận văn chương, Văn chương nhìn từ góc sân trường… Do đó, không phải ngẫu nhiên, trong tập thơ này anh đã xây dựng “ký hiệu thơ” qua hình ảnh thiên di. Hình ảnh chủ đạo ấy, bay rợp một khoảng trời:
mắt vừa toan chợp mắt
cánh chao lạc bầu trời
đường bay không dấu vết
mỗi người bay một nơi
Rồi anh tự ý thức:
gửi thân vào thiên lý
bay đi để bay về
Những chuyến “bay đi để bay về” hàm nghĩa cho sự sáng tạo không mệt mỏi của người cầm bút. Dù vẫn bay nhưng không lặp lại các động tác, nhịp điệu cũ, nói cách khác đó là lúc họ phải vượt qua chính mình. Và từ trong sâu thẳm của trái tim đa cảm, nhà thơ đã nghe thấy:
hót điệu sầu chảy máu
ngõ nhà thăm thẳm xa
sợi rơm vàng rơi thẳng
sông Hoài rơi tiếng ca
Thật ra “điệu sầu chảy máu” cũng là tiếng lòng của nhà thơ đấy thôi. Những đường bay vô tận đã nói lên một khát vọng tự làm mới từng câu thơ. Làm mới chính mình, dù có lúc: “Xập xoè vạt áo ca dao / Bọc tân hình thức mà chao chát lòng”. Không những thế, anh còn ngụ ý từ hình ảnh gieo hạt. Ở đó:
Nỗi buồn không hề chăm sóc sao chóng lớn quá
niềm vui nuôi dưỡng từng giây đã chợt xa xưa
cứ ngửa lên trời nghe vị mặn
biết là ai đang khóc ở trong mưa
Câu thơ như một lời tự sự. Và từ sâu trong tiềm thức, nhà thơ vẫn không nguôi một niềm hy vọng phía tương lai chói loà sự sống:
Anh vịn mà đông chết nắng
trên tay giấu nụ tinh khôi
chợt nở nghìn bông mưa trắng
rồi tan dần…
rồi sinh sôi…
Hành trình đến với thơ luôn lẻ loi, đơn độc của một người. Lấy cánh thiên di làm biểu tượng cho sự sáng tạo ấy, Nguyễn Minh Hùng đã có những bài thơ, câu thơ mà anh đã tự nhủ: “Ngày hằng sống / Ngày hằng tin…”
THIÊN DI - NHỮNG GIẤC MƠ BAY
Nguyễn Đình Vĩnh
Tập thơ Thiên di - NXB Hội Nhà văn - 2014 của Nguyễn Minh Hùng, Giải thưởng Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng năm 2014, Giải thưởng Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam 2014, ghi dấu chặng đường thơ vừa là bước đi tiệm tiến vừa có những trăn trở cách tân của chính tác giả. Tiệm tiến trong biểu tg nghệ thuật ngắt dòng, sử dụng dấu câu, cấu trúc tứ, ngôn ngữ và hình ảnh; cách tân trong việc tạo dựng hình tượng thơ đa nghĩa đa chiều. Vì lẽ đó nên tác giả luôn được người đọc đón đợi.
Trịnh Công Sơn từng tâm sự: “Cuộc đời chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn, tình yêu thì vô cùng…”. Thiên di của Nguyễn Minh Hùng là tiếng ca về thân phận, nhưng là thân phận của một lớp người luôn ý thức về mình, luôn ý thức nâng mình lên, dõi tìm và giữ lấy cái Đẹp cho mình, cho đời.
Thiên di, chủ yếu ở thể tự do, gồm 30 bài thơ kết nối hầu như xoay quanh một chủ đề, là sự tiếp nối mạch nguồn ở Chân trời (tập thơ đầu tay của Nguyễn Minh Hùng). Nếu Chân trời là nơi có thật trong tưởng tượng/ Những cơn mơ thường đến đấy để dừng chân (Chân trời)…thì Thiên di không phải là nơi để dừng chân mà là nơi đang cất bước, bung toả. Chính vì thế, hiện thực cuộc sống trong Thiên di chỉ là những nét phác hoạ mờ nhoè.
Thiên di lấy cảm hứng từ sự chuyển dịch, vận động. Mà vận động là đặc tính nổi trội của vạn vật. Có điều, vận động ở đây diễn ra theo chiều hướng nhanh, rất nhanh. Diễn ra trong không gian với khoảng trời diệu vợi, miền bụi đỏ, chấp chới gió mưa, dặm đường khuất lấp, lao phía bầy đàn, đống bãi phương Nam mỏi mắt, tận phía man khê, đảo trời lồng lộng, biển triệu năm hoang vắng, núi đồi phơ phơ cỏ lau trầm mặc, những núi thông ngàn, ngang trời đang hứa cơn giông/ sao khuya lỡ hẹn dòng sông mơ hồ… và chủ yếu bằng những hành trình: bay sát, bay đi, bay về, bay lên, bay ngược, lầm lụi, băng qua, dạt về, trái tim treo trên sóng, đường bay vô hình, hành phương khác… Và cả những kiểu bay không mong đợi: rụng xuống, rơi rụng đột nhiên, rớt xuống, lao vào phương trú đông… Những đường bay - hành trình hầu như không đoán định trước, diễn ra trong thời gian vừa như hoá thể vừa như đồng hiện: Anh chạy giữa tháng - năm - con - người nôn nao cơn khát (Thức dậy); Ngày và thế kỷ dài bằng nhau/ duy một ban chiều được đo bằng kích thước khác/ kích-cỡ-một-em bé vô cùng lớn vô cùng/ thế giới vô tình vô cùng (Cơn mưa); đã bay là rét mướt/ là có thể/ rớt; Chấm hồng chân mây đi miết không về (Hồng Hạc);
Thiên di mang nhiều ẩn dụ kép - sự nhập thể của chủ thể trữ tình vào những cánh chim bay nhiều khi rất khó phân định (cần chú ý rằng hình ảnh “một tiếng trên không” đã xuất hiện nhiều trong thơ ca cổ điển; nhưng đó là những đối tượng trữ tình được quan sát, miêu tả, hình dung như một khách thể. Ví dụ “Lạc hà dự cô lộ tề phi” của Vương Bột trong bài phú Đằng Vương các). Người nghệ sĩ trong Thiên di khi thì ký thác phận mình theo đôi cánh của hồng hạc, chim yến, chim nhạn, nhạn lẻ, khi thì tự nâng mình lên, tự đưa (hay tự thấy) mình bay qua giấc mơ, giấc mơ bay, cơn mơ, những cơn mơ trong giấc - ngủ - bay, mượn trùng dương làm cuộc sinh tồn, nẻo đường quyến dụ, mang theo trăm cuộc phân li/ chất lên ngàn cơn mộng tưởng…
Biết bay xa có nhiều bất trắc, những gấp gãy hằng thường, mù mịt cơn mưa,cuốn trong miền bụi đỏ, rét mướt, vấp té, là có thể rớt, mất tiêu… là đáp xuống những đầm ao khô khốc, những cánh rừng lửa mọc, đất đai cỗi cằn bức thiết, lăn tròn vô định dưới đáy thung sâu… Nhưng chủ thể vẫn khát khao bay để khẳng định mình, để đi tìm đất sống, để khẳng định một khát vọng vĩnh hằng... Bi kịch có khi không nằm ở chỗ khó nhọc hay thất bại mà chính là ở chỗ muốn bay mà không thể bay được: Mắt khát khao bầu trời/ tay dang tay đôi cánh/ sợi chỉ mây mỏng mảnh/ trói đường bay vô hình (Cánh chim buồn bực); Người buộc tôi sợi chỉ/ bên bờ ao nhà mình/ sao không là nước đục/ khỏi ngóng trời rộng thênh (Lời ru thiên di).
Cái tôi của cảm giác âu lo, ý thức về thân phận, về dấu ấn cá thể cũng thường hiện trong cuộc lữ hành đơn độc: Mắt vừa toan chợt mắt/cánh chao lạc bầu trời/ đường bay không dấu vết/ mỗi người bay một nơi (Lời ru thiên di); Chúng ta phải bay chung trên những khoảng trời/ và cùng in thứ bóng hình nhạt nhoà/ trên đất (Nẻo đường); Đi về nơi đang lấm láp/ vai người chạm phải vai người/ lời va vào lời tan nát/ tiếng yêu lạnh cóng trên môi (Ngày vắng). Càng âu lo, càng ý thức thì cũng càng hoài nghi. Hoài nghi về con đường tiệm cận giữa nhà văn và bạn đọc: làm chi có được nhịp cầu (Bạn đọc), hoài nghi về nhịp song hành trên những chặng đường yêu: lối về chỉ một bóng thôi/hoài xuân mang mang cõi hết (Tin nhắn mùa đông). Để rồi từ đó vững tin đi tìm bản chất uyên nguyên của vạn vật, đề cao tính nhập thể: Đi tìm sắc thu có thật giữa Mùa Thu; Sự - Thật - Mùa - Thu đâu dễ nhận ra (Bay ngược); Mùa Vàng thực sự ra đi ngày tháng đó/ khi chúng ta/ giã biệt cánh đồng (Mùa vàng);Rồi những đêm về đêm ơi đừng ngủ hết/trăng sẽ lặn ngay/ trước mỗi giấc vô tình (Ánh trăng). Và trong tính tương duyên không vẹn toàn thì đã chủ động nhận sự thua thiệt về phía mình: nhận riêng mình trận trận thu phong (Bay ngược), nhận nắng gắt gay riêng mình/ che bão tháng năm rát rạt/ không đợi mùa về thanh minh (Nhịp điệu)..,
Ở Thiên di, có những câu thơ mang cấu trúc định nghĩa nhưng trường nghĩa được thể hiện ở đây rất khác so với cách hiểu thông thường: Yêu là sự thật/tự do là một sự thật khác (Bay), Thiên di là không ngủ (Lời ru thiên di), buổi chiều đợi là buổi chiều rét nhất (Hồng Hạc), và đêm nay sẽ là mai mốt rồi (Nẻo đường), Giữa tráng ca biển triệu năm hoang vắng/ sóng vỗ đều đều trang lịch rụng từng trang/ bên dưới cột buồm xác tình nhân phơi trắng/ những oan khiên thương mến xếp hàng hàng (Hàng hàng), Khi đã tháp tùng qúa khứ/ cần chi thêu dệt mộng đầu/ chớ dại viết trang tình sử/ để còn năm tháng bên nhau (Bến xa)…
Có những câu thơ kiểu giải thích - suy luận nhưng lại là giải thích - suy luận mở. Lớp nghĩa ở đây cũng khác so với các lớp nghĩa thường thấy. Nó được gợi nên từ những suy nghiệm triết học: mũi tên không phải để bắn/ mũi tên đi tìm nắng mai (Bay),Chợt biết/ khi trút hết những quang gánh/ càng nặng nhọc/ trên đường/…, Đi tới nơi hương không tới/ người che khuất lấp mặt người (Ngày vắng), Những lưới đạn vô tâm giăng mắc/ những vì sao nhấp nháy quá xa vời/ khi nhắm mắt bóng tối luôn gần nhất/ từng cánh nhạn lìa cành cùng lá thu rơi (Đêm Nhạn Lẻ)...
Có nhiều câu thơ dạng hỏi nhưng không phải để chờ sự trả lời mà để chiêm nghiệm, để biểu lộ tư tưởng: Phía trước hẹn rất nhiều cơn mưa tuyết/ thời gian đủ cho ta một cuộc hồi đầu? (Bay ngược), Ai thắp lên ngọn lửa cuối đông này (Trái tim chim yến), Ai dắt dẫn vào mùa đông kỳ lạ nhất/ giọt mắt rơi chảy xiết dưới mưa phùn (Dấu chân), rừng đầu nguồn cháy nỗi lo những dòng suối cạn/ bao giờ anh về kịp lúc với cơn mưa? (Cơn mưa), Bấy giờ làm sao có thể/ đi tản cư những tiếng nổ?!…(Tiếng nổ)…
Trong nỗ lực gửi các tầng nghĩa vào chữ, ngôn ngữ thơ Nguyễn Minh Hùng dồn nén, tinh tế, hoà trộn khí vị cổ điển với sự cách tân. Bên cạnh đó, nếu để ý thì có thể nhận ra ý thức sử dụng một số phương ngữ xứ Quảng gây ấn tượng và có tính biểu cảm cao: Lá rớt tờ tin quá vãng, che bão tháng năm rát rạt, vết thương khâu mãi chắc chi lành, mất tiêu y chang mây ngàn, nơi giấc mơ đầu tiên có thiệt…
Xác lập cấu tứ là thế mạnh của tác giả qua nhiều bài như Hàng hàng, Đêm Nhạn Lẻ, Ngày hằng sống, Tiếng nổ, Ngày hằng sống, Mùa vàng, Những quả trứng nở ra… Rất khó tìm trong tập thơ này kiểu miêu tả theo lối tức cảnh thường thấy; câu thơ ít khi trực tiếp bày tỏ xúc cảm; càng hiếm có sự so sánh truyền thống với từ “như”; nhiều từ ngữ bắt cầu bị lược bỏ (nên khó hiểu và hơi khó đọc); một số chỗ ngắt dòng và đảo trật tự từ khá lạ lẫm, bất ngờ kiểu:
- Rồi bùn đất dậy hương yêu dấu
rồi bàn chân bám víu những bàn chân
gì đã mất gì cũng mất
hãy cất bước
đường…
con
trên
(Trừ tịch quê nhà)
Có những đoạn thơ có cách nói gợi sự liên tưởng cao. Một vài trích dẫn không trọn vẹn:
- Tre đã trên ba mươi năm hoa không trổ
những bờ chông tươi tốt dựng ven làng
gió thổi ngang đồng không chạm người vạm vỡ
gió một mình tự lạnh lúc chiều sang
(Tiếng nổ)
- Đó là đêm bi kịch của sự cảnh giới
hay thời khắc diệt vong của lẽ tồn sinh?
khi mặt trời lên soi lau lách
trên chiếc lông vũ bẽ bàng u ẩn một sinh linh…
(Đêm Nhạn Lẻ)
- Thu vàng phương Bắc giờ chắc lạnh
Hồng Hạc heo may cổ có quàng khăn
buổi chiều đợi là buổi chiều rét nhất
cánh di trú dạt phía nào phía ấy đắp giùm chăn
(Hồng Hạc)
Từ khi tập thơ Chân trời hiện hữu đến lúc Thiên di ra đời, về mặt thời gian, đã hơn mười năm có lẽ. Đó là ghi dấu chặng đường thơ vừa là bước đi tiệm tiến vừa có những trăn trở cách tân chính mình. Tiệm tiến trong biểu tượng nghệ thuật ngắt dòng, sử dụng dấu câu, cấu trúc tứ, ngôn ngữ và hình ảnh; cách tân trong việc tạo dựng hình tượng thơ đa nghĩa đa chiều. Thơ Nguyễn Minh Hùng, vì lẽ đó nên luôn được người đọc đón đợi./.
THIÊN DI - CUỘC LỮ HÀNH TRONG TÂM TƯỞNG
Trần Trung Sáng
Thiên di là tên tập thơ thứ 2 của Nguyễn Minh Hùng, nối tiếp tập thơ Chân trời (2002) “theo logic hình thức lẫn hàm nghĩa ngôn từ”… Thiên di gần 100 trang, khổ 14x20,5 cm, gồm 30 bài thơ, do Nxb Hội Nhà văn ấn hành. Bìa và minh hoạ của hoạ sĩ Nguyễn Trọng Dũng.
Xuyên suốt tập thơ, hầu như tác giả Nguyễn Minh Hùng tập trung vào một chủ đề duy nhất: hành trình về một chuyến đi - chuyến đi của thân phận đời người, đời thơ… Nhân vật mang tính biểu tượng trong tác phẩm là những cánh chim: Thương thay đôi cánh mỏi/ thiên di lao về phía bầy đàn/ trăm năm nhọc lòng đá sỏi / ngàn năm trở giấc hạc vàng...
Người đọc không thể không sững sờ trước những “không - gian - bay” kì ảo của các cánh chim:…băng qua thu vàng và tầng mây trắng/ hãy bay sát vào nhau chống đỡ trận trận gió/…/ phía mù mịt cơn mưa giận dỗi thuở giao mùa (Bay). Những cánh chim ấy bay xuôi về phương Nam vẫy gọi, rồi bay ngược về phương Bắc, bay ngược chiều lũ sếu (Bay ngược); lại có một cánh chim bay lạc/ bỗng dưng hót giữa núi đồi (Cánh thiên di); đến lúc không thể bay - người buộc tôi sợi chỉ/bên bờ ao nhà mình (Lời ru thiên di).., Cánh chim thân phận xuất hiện trong nhiều bối cảnh: Khi thì xếp thành một mũi tên/ không thể khác; lúc thì đường bay không dấu vết/ mỗi người bay một nơi; ngay cả trạng thái không bay mà vẫn bay - người ở yên một chốn/ mà thành phận thiên di (Cánh chim buồn bực); hoặc trong cảnh ngộ khác, cánh chim chỉ còn chút dấu vết sau cùng - kỉ niệm lông vũ ngời đáy nước (Hồng Hạc), trên chiếc lông vũ bẽ bàng u ẩn một sinh linh (Đêm Nhạn Lẻ)… Nhưng cuối cùng cũng không tránh được bi kịch chốn trần gian: Những lưới đạn vô tâm giăng mắc/ những vì sao nhấp nháy quá xa vời/ khi nhắm mắt bóng tối luôn gần nhất/ từng cánh nhạn lìa cành cùng lá thu rơi (Đêm Nhạn Lẻ)…
Thơ của Nguyễn Minh Hùng chắt lọc, trau chuốt, lấp lánh từng câu chữ, vừa ẩn hiện phong vị cổ thi vừa mang sắc màu hiện đại. Do vậy, nó không dành cho người đọc dễ dãi mà hướng đến kẻ tri âm, buộc phải đọc chậm, suy ngẫm, liên tưởng: khi đã chọn tiếng kêu tinh huyết/ rơi xuống đâu cũng âm vang sự sống của màu/ chỉ thương một góc trời cô lẻ/ nhận riêng mình trận trận thu phong (Bay ngược)… Ở phương diện ngôn ngữ và cấu trúc, Nguyễn Minh Hùng có ý thức rất rõ; vẫn chọn sự cô đúc, dồn nén, lượt bỏ yếu tố phụ hoặc so sánh; hàm nghĩa biểu hiện qua ẩn dụ, đi tìm những hình ảnh lạ (không phải bí hiểm) rồi đan kết bằng chữ nhằm tạo ra bức tranh ở bên ngoài và bên trong tâm trạng - Tre đã trên ba mươi năm hoa không trổ/ những bờ chông tươi tốt dựng ven làng/ gió thổi ngang đồng không chạm người vạm vỡ/ gió một mình tự lạnh lúc chiều sang (Tiếng nổ); trật tự từ và cách ngắt dòng độc đáo (có chỗ đảo ngược 3 từ trên 3 dòng thơ như trong bài Trừ tịch quê nhà), lại có một số từ Quảng sử dụng đắt địa… Hầu hết là thơ tự do nhưng nhiều bài tác giả rất chú trọng nhạc tính (kể cả thơ văn xuôi): Thu vàng phương Bắc giờ chắc lạnh/ Hồng Hạc heo may cổ có quàng khăn? Buổi chiều đợi là buổi chiều rét nhất/ Cánh di trú dạt phía nào phía ấy đắp giùm chăn (Hồng Hạc); Một ngày sông Thu có thể/ Hoá thành trùng điệp quan san/ Và rồi chúng ta cũng thế/ Mất tiêu y chang mây ngàn (Bến xa)…
Khác với cuộc sống thường ngày - vốn là nhà giáo dục cần mẫn, mẫu mực, trong thơ, Nguyễn Minh Hùng thể hiện nỗi dày vò, tâm trạng đầy khát vọng tự do của một người nghệ sĩ vốn đa đoan. Đó là niềm khắc khoải của cuộc “hồi đầu” - Xin những lỗi thề cùng về hối tiếc dưới trăng/ chiếc thuyền mở trộm trên dòng sông đêm ấy/ ánh trăng cùng chúng mình/trôi… (Ánh trăng), Rồi bay đi lỡ bay mãi/ trời cao lỡ đã vô biên/ lỡ khi nào quay trở lại/ ngày xưa đã lỡ hư huyền (Cánh thiên di)… Đó là sự chọn lựa rực rỡ mà khó nhọc - Mũi tên nở hoa nếu mùa xuân vừa kịp tới/ Mũi tên nhỡ không may rụng xuống quê nhà/ hoá cỏ biếc thanh minh (Bay). Đó là âu lo “tay trắng” - Cơn mơ ra đi nhường chỗ giấc ngủ an lành/ anh bật dậy giữa dịu dàng sương sớm/ lo sợ chúng mình giẫm vào ngày/ với tay trắng cơn mơ… (Cơn mơ). Đó là mong đợi thảng thốt - Anh chạy giữa tháng năm con người nôn nao cơn khát/ mưa thủng thỉnh rơi sông suối nhọc lòng (Thức dậy)… Đó là sự tự tha hoá có thể: Nắng xuân ấm áp và quyến dụ đến nỗi/ tôi bỏ rơi chính mình ngay lúc bóng đêm tan (Trừ tịch quê nhà). Đáng chú ý hơn nữa là ở bài Bến xa - chuyện kể về đôi tình nhân trở lại chùa xưa trên bờ sông cũ, nơi hò hẹn lần đầu: Vẹn nguyên một không gian cũ/ mái chùa cong vành trăng non; thế nhưng, nơi ấy giờ đã có những thay đổi lạnh người: Rồi sư đi lên cõi Phật/ tiểu về lấy vợ bỏ chùa/ ta cuốn trong miền bụi đỏ/ chung cùng chấp chới gió mưa. Chưa dừng lại ở đó, tác giả còn hình dung một vòng quay luân hồi nữa: Sư thầy kiếp sau có vợ/ chú tiểu đăng nhập niết bàn/ bến xa cô đơn dễ sợ/ nếu người năm cũ không sang…
Ở đôi dòng tự sự (trang bìa phụ), Nguyễn Minh Hùng viết: “Trên đường thiên lý, loài chim di trú trải qua nhiều cảnh tượng huy hoàng và rủi ro, bất trắc. Chúng bị rình rập bởi giông bão, cái đói, bệnh tật, già yếu, phường săn và sự tự huỷ hoại của bầy đàn…Đối với loài thiên di, quê hương là khái niệm có ý nghĩa, nhưng đất sống, sự sống cao hơn là “sự tồn tại”, lại mang một ý nghĩa khác. Thân phận người - nhất là nghệ sĩ - phải chăng là một cánh thiên di? Trong không gian bay diệu vợi ấy, số phận Cái Đẹp mong manh và vĩnh hằng ước muốn chất chứa qua chữ và cấu trúc”.
Thiên di khép lại nhưng cuộc lữ hành của cánh chim di trú vẫn cùng ta mãi bay trong tâm tưởng bằng chính nẻo bay riêng để tìm đến “tín ngưỡng cuộc sống” của người nghệ sĩ, của Con Người./.
Đà Nẵng, tháng 8/2014
NGUYỄN MINH HÙNG
Khai sinh: 01.01.1959; quê quán: Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hiện sống ở tại Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Dạy học.
* Tác phẩm in riêng:
- Chân trời, Thơ, NXB Đà Nẵng, 2002 - Tặng thưởng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng năm 2002; Giải thưởng Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng lần thứ I, 1997-2005.
- Văn chương nhìn từ góc sân trường, Tiểu luận phê bình, NXB Văn Học, 2003 - Tặng thưởng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng.
- Cảm nhận văn chương - Ngôi thứ tư số ít, Tiểu luận phê bình, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 - Tặng thưởng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng năm 2006; Giải thưởng Văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng lần thứ II, 2005 – 2010.
- Thiên di, Thơ,…
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.