Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: Vũng Tàu (2)

Một số bài cùng từ khoá

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 13/12/2018 11:16

Vũng Tàu phong cảnh thi:
Đổi dời vực biển hoá cồn dâu,
Hứng chí vui xem cảnh Vũng Tàu.
Bề chắc đồn xây gành Thạch lại,
Vọi cao đèn chói đảnh Vân Đầu.
Bãi dừa dấu để con danh trước,
Xanh Rắc (St-Jacques) chừ thêm vững cuộc sau.
Đường nước Nam kỳ khoe hiểm cứ,
Ở trên nhắm xuống mối giềng thâu.


Địa đầu tu chỉnh Vũng Tàu,
Trên rừng dưới biển yết hầu bổn căn.
Phan Sa thuở trước gọi rằng,
Bãi Dừa xứ ấy trục năng trồng dừa.
Cơ trời trải mấy nắng mưa,
Mà nay gầy dựng mới vừa dễ coi.
Chỗ sâu chỗ cạn rẽ ròi,
Rõ ràng cứ hiềm một doi Hải Phòng.
Trời sanh cảnh cũng lạ lùng,
10. Hẹp sâu thuỷ khẩu quanh vòng Thuỷ Vân.
Đăng Đài cao vọi mấy từng,
Tục kêu Đền Điện soi gần đến xa.
Tàu ghe tăm tối lại qua,
Ngó chừng nơi đó vào ra chẳng lầm.
Sóng đơm mũi nước ầm ầm,
Đá đem ngăn đón êm cầm như chơi.
Hiềm vì các lấp cạn đời,
Tốn hao mất cà tiền tời biết nhiêu.
Trên bờ sấm sẵn huê tiêu,
20. Hoả thoàn xuất nhập dắt dìu đem đi.
Bảo Giác Ngư, đồn Tam Kỳ,
Vòng do bát cạy bôn trì Ngưu Giang.
Huê tiêu tổn phí muôn ngàn,
Công ơn dẫn lộ đâu màng bấy nhiêu.
Đường xe mé núi quanh theo,
Giữa rừng lầu các tợ đèo Bồng Lai.
Dinh quan Tổng thống riêng ngoài,
Bối sơn diện thuỷ tiên đài khác đâu.
Có chùa Phật đá đã lâu,
30. Tại Thắng Tam xã giải đầu tranh pheo.
Rằm ngươn cúng tế quạnh hiêu,
Nhện giăng trước án dế kêu bên đồng.
Minh minh sóng bủa điệp trùng,
Tốt thay thanh tịnh một vùng sắc không.
Lại có miễu lăng Cá Ông,
Kề bên nhà hội ngoài trong sum vầy.
Hàm dài chừng bốn thước tây,
Hãy còn hiện tại ngày nay để thờ.
Thắng Nhì có giếng bao giờ,
40. Tục kêu giếng Ngự sờ sờ còn ghi.
Ván xây bốn phía y nguy,
Gần bên nước mặn thường khi ngọt hoài.
Quan dân bất luận ai ai,
Chở chuyên về uống lâu dài tư niên.
Đồn quân mầu nhiệm cách riêng,
Nơi ngoài Gành Rái mặt tiền thấy chi.
Mà trong ngả nghách rất kỳ,
Châu mai trí súng tứ vi hẳn hòi.
Ở cao nhắm thấp dễ coi,
50. Ngư lôi sẵn đặt máy ngòi éo le.
Lập ra dinh dãy tư bề,
Xã Tây cai trị coi về nội dân.
Chỗ nhà vén khéo cân phân,
Các cha ngoại quốc riêng phần dưỡng dung.
Lịch xinh trường học thầy đông,
Sớm khuya dạy dỗ ra công cần cù.
Dây thép thuỷ bộ cơ xu,
Tóm thâu giềng mối hải hồ sơn lâm.
Chợ đông người ước đôi trăm,
60. Phố phường rải rác mấy lăm nhà giàu.
Vật ăn cá biển sò hàu,
Tôi cua gà vịt đậu rau cũng nhiều.
Nhà dưỡng bịnh rất mĩ miều,
Quan quân hứng gió người đều Phan Sa.
Nhà hàng gần đó không xa,
Ô-ly-vê (Olivier) ngánh cất ra Vũng Tàu.
Dưới sông có bến cầu tàu,
Thường khi Ngũ Quản ghe bầu ra vô.
Mỗi ngày mỗi có tàu đò,
70. Chở bộ hành với đồ thiếu chi.


Nguồn: Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, tập 1, Libraire Imprimeur, Saigon, 1909