Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: Biên Hoà (2)

Một số bài cùng từ khoá

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 13/12/2018 11:19

Biên Hoà phong cảnh thi:
Quãng hạt đường xa mấy dặm dài,
Vừa ba trạm đất tới Đồng Nai,
Thạch Nang giữa lạch thuyền kinh hãi,
Chiêu Thới bên triền khách vãn lai.
Linh cậy miễu chùa linh ngó thấy,
Lợi nhờ sỏi đá lợ bền dai.
Nhà dân xóm xóm đều trung hậu,
Thói cũ lề xưa hãy mĩa mai.


Biên Hoà tiếng gọi Đồng Nai,
Tục kêu Nồng Nại giọng sai gần gần.
Cao hoàng thâu phục Phú Xuân,
Nhờ nơi Lộc Dã binh hưng hiển tài.
Lộc Dã nghĩa là Đồng Nai,
Theo đường quãng hạt dặm dài tâm tâm.
Của nhờ tài mộc sơn lâm,
Đá xanh sỏi núi cà hằm cả hang.
Thường năm thường lấy muôn ngàn,
10. Sanh sanh hoá hoá lợi càng hoá sanh.
Ra công rẫy ruộng thâu thành,
Bắp khoai mía đậu để dành đủ tiêu.
Mía đường vật cũng khá nhiều,
Bưởi ngon ngọt với trà tiêu mọi loài.
Cau khô thuốc súc dầu chai,
Thịt rừng thời có hưu nai thường thường.
Mười tổng đất đặng bề trường,
Châu Thành thiết lập quan đường nghiêm trang.
Chỉnh tề bên niết bên phan,
20. Bực tiền cẩn đá đại giang thuỷ triều.
Phố phường vừa đủ không nhiều,
Vật ăn cũng ít mỹ miều thanh tân.
Dân cư phong tục kiệm cần,
Hễ nơi trù mật là gần thị thôn.
Đường Sứ, Đồng Váng, Đồng Môn,
Bến Gỗ, Bến Cá, Chợ Đồn, Chợ Dinh.
Đồng Môn, Bà Ký, rất xinh,
Vườn Cau mịch mịch tươi xanh cả ngàn.
Phước Lai, Phước Kiểng, mấy làng,
30. Phong thuần tục mỹ dân nhàn sanh phương.
Lắm nhà bền vũng cột rường,
Lắm trang chữ nghĩa văn chương học hành.
Người xưa khoa hoạn có danh,
Ông Đào Trí Phú đàn rành bực sang.
Bị can án, thuở tiên hoàng,
Phải chăng ai tỏ ưng oan cho cùng.
Ông Hiệp Bá tánh khiêm cung,
Vợ chồng nhơn đức một lòng như nhau.
Thổ sản thứ nhứt là cau,
40. Cau khô xứ ấy ăn lâu đẹp tình.
Xa xuôi cách trở hải trình,
Ít khi cá biển, dùng mình cá sông.
Những đồ quả phẩm hàng bông,
Với đồ lò gốm đủ dùng trong dân.
Các nơi đình miễu thôn lân,
Xuân kỳ thu báo lệ thần nghiêm trang.
Quan hôn tang tế kỹ cang,
Vãn lai thù tạt bĩ bàng lễ nghi.
Thạch nghê đầu giác dị kỳ,
50. Biên Hoà tục ngữ kêu thì ông Nghê.
Lớn hơn mười trượng chĩnh ghê,
Nước ròng cạn thấy tư bề y nguyên.
Cù Lao phố chỗ linh thiêng,
Xưa có cầu ván bắt chuyền ngang sông.
Lý Quan người chệt xưng hùng,
Đại vương Đông Phố vẫy vùng cõi riêng.
Lê Cảnh Hưng thuở bát niên,
Chàng bèm đốt phá cầu liền cháy tiêu.
Sự bình bất phục tu kiều,
60. Bến đò đưa rước mơi chiều lại qua.
Sau giặc Tây Sơn vào ra,
Đóng đồn gần đó kêu ra Chợ Đồn.
Thạnh Nang chỗ rất hãi hồn,
Đá hàng một dãy tiếng đồn thuở nay.
Hẹp vừa lòng lạch giữa ngay,
Ghe đi lên xuống người rày đều nao.
Tới mùa lạo thuỷ lộn đạo,
Chảy đứt đuôi rắn ra vào sợ ghê.
Miễu quan Chưởng Lễ dựa kề,
70. Lý Ngư có lúc khuya về hiện thân.
Nhảy nhào hụp lặn lăng xăng,
In như hình tới trước sân lạy mừng.
Thiệt là thượng đẳng linh thần,
Công lao khai quốc xa gần tạc ghi.
Bây giờ nền mới cải đi,
Hãy còn nền cũ vậy thì y nguyên.
Tốt thay chùa núi cảnh riêng,
So bề thanh lịch là miền Bữu Phong.
Đại giác chùa có sắc phong,
80. Hoả hương sum thạnh Phật đồng lớn cao.
Có người đui tối tầm phào,
Lên hòn Chiêu Thới ước ao trụ trì.
Tay cùi mắt chẳng thấy chi,
Thiện nam tín nữ đều thì xúm lo.
Thường đem ve nước tới cho,
Nửa thì người uống nửa cho bùa về.
Ví dầu bịnh hoạn ủ ê,
Uống vào khoẻ mạnh hơn bề sâm nhung.
Xóm làng tin cậy vào lòng,
90. Cất cho am tự dưỡng dung tu hành.
Núi Lò Gạch chỗ đá xanh,
Những người nước Hẹ dinh sanh dập dìu.
Trời cho hang lợi mĩ miều,
Giúp dân ngoại quốc biết nhiêu bạc tiền.
Làm ra vạn vạn thiên thiên,
Bởi bàn tay trắng nhọc siên xắn đào.
Núi Cù Lao Rùa trên cao,
Có lưỡi tầm sét đời nào lưu lai.
Hình như lưỡi búa không sai,
100. Nguyên là cốt đá khen ai khéo mần.
Bến Cá Vàm dưới cũng gần,
Dài theo mé nước thói dân trở đường.
Bình Thạnh, Bình Ý, Thôn Hương,
Lò đường cát trắng thường thường biết nhiêu.
Mùa đông các lái mua nhiều,
Đường chở dập dìu Bến Cá đem ra.
Thiếu chi thợ ở trên nhà,
Các lò đường phổi ở mà mé sông.
Chảo lò thợ sắm sẵn dùng,
110. Trở thành đường phổi nhờ trong trứng gà.
Nguyên đường cát trắng làm ra,
Trở rồi cắt miếng hườn mà tiền công.
Các lái mướn trở đã xong,
Bán cho các chợ đờn ông đờn bà.
Tục dân gần Tết mọi nhà,
Dưa hấu đường phổi đều là sắm chưng.
Nghèo quê trong chốn rẫy rừng,
Trong ba bữa Tết cũng chưng thường thường.
Tây triều chỗ Thiên Chúa đường,
120. Thinh thinh lầu các cột rường vọi cao.
Xung quanh người đạo ở bao,
Mỗi tuần kinh sách ra vào cẩn nghiêm.
Dân cư bốn phía lặng im,
Thiệt thà chắc chắn giữ niềm thảo ngay.
Bề trên dạy dỗ rất hay,
Lại thêm Bà phước sắp bày kỹ cang.
Đâu đâu tề chỉnh lớp lang,
Đồng nam đồng nữ lịch sang mĩ miều.
Tốt thay phong cảnh Tân triều,
130. Bông huê cây trái vật nhiều món xinh.
Trầu cau cam bưởi quít chanh,
Măng thơm chuối mít vật lành lợi dân.
Đường Sứ chỗ rất thanh tân,
Chức làng trung hậu thói dân thiệt thà.
Đình thần phong cảnh diềm dà,
Phố phường buôn bán thuận hoà hai bên.
Có chùa Ông Mõ phía trên,
Ngó lên xóm Cối chùa tên cũng kỳ.
Nguyên xưa cái gốc cây chi,
140. Đem về tỉa vẻ y nguy tượng hình.
Áo xanh bận phủ ngoài mình,
Mặt lần thỏn xuống mỏ chinh chinh dài.
Thờ chung với Phật Như Lai,
Người đi cúng quảy hoài hoài vào ra.
Bùng binh Đá Trắng trên xa,
Thánh đường cao vọi coi đà phải nơi.
Khiết tin thờ Đức Chúa trời,
Đọc kinh xem lễ thảnh thơi tư bề.
Trên ông linh mục chỉnh tề,
150. Dưới người trong họ no nê xa gần.
Trời sanh phong thổ toan tân,
Đủ ăn đủ bận ngày lần tháng qua.
Chẳng hề lãng phí xa ba,
Tôn ty đẳng cấp phải mà dưới trên.
Học thời chánh phụ hai bên,
Trường quan trường tổng dạy nên cũng nhiều.
Sáu tổng dân Mọi liêu hiêu,
Cửa nhà rải rác bao nhiêu sang giàu.
Biên Hoà nước ngọt sông sâu,
160. Đất pha cát trắng đường cầu lịch xinh.
Hoả xa nay đã dọn thành,
Xiết bao lao dật dân tình buồn vui.
Vui là luân chuyển khứ hồi,
Chia ra bốn hạng đứng ngồi cân phân.
Đốc công dầu những cấp cần,
Vơi vơi dặm thẳng dần dần lẽ xong.
Chừng nào nam bắc lưu thông,
Nay còn hết thảy kẻ trông người chờ.
Toàn hạt năng dụng xe tờ,
170. Xe bò thì để bụi bờ xông pha.
Ghe thời thường sắm rỗi nhà,
Nghề đi chở cá vào ra rạch ngòi.
Ít nhiều con mắt từng coi,
Coi rồi đánh giá hẳn hòi không sai.
Cận sơn cận thuỷ cũng tài,
Trời sanh mỗi nghiệp một vài người hay.
Những người danh tiếng đời nay,
Ông Lương Văn Núi nết hay gìn lòng.
Hàm Đốc phủ sứ gia phong,
180. Biên Hoà quản hạt hội đồng có danh.
Ông huyện Sự xứ Long Thành,
Thuộc Bình Lâm tổng hiền lành thẳng ngay.
Lão thành chữ nghĩa xảo hay,
Trước làm cai tổng ngày nay huyện hàm.
Chuộng yêu đạo học An Nam,
Gia viên ẩn dật thú cam vui vầy.


Nguồn: Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, tập 1, Libraire Imprimeur, Saigon, 1909