即事

獨坐北窗上,
日雨何淒淒。
寒多新穀晚,
雲重遠山低。
浸潤牆生耳,
瀠于酒到臍。
不知春色淡,
一鳥掠山西。

 

Tức sự

Độc toạ bắc song thượng,
Nhật vũ hà thê thê.
Hàn đa tân cốc vãn,
Vân trọng viễn sơn đê.
Tẩm nhuận tường sinh nhĩ,
Oanh vu tửu đáo tề.
Bất tri xuân sắc đạm,
Nhất điểu lược sơn tê (tây).

 

Dịch nghĩa

Ngồi một mình ở cửa sổ phía bắc,
Ngày nào cũng mưa, lạnh lẽo làm sao.
Rét nhiều nên lúa mới chín muộn,
Mây dầy núi xa như thấp xuống.
Nước mưa ngấm lâu, bức tường đã mọc tai,
Rượu uống vào quanh co xuống đến tận rốn.
Không biết màu xuân đã nhạt,
Một con chim bay vượt qua phía tây núi.


Rút từ Quế Sơn Tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn:
1. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
2. Thơ và đời, Hoàng Tạo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005
3. Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Tạo

Mình ngồi trước song bắc,
Mưa ngày lạnh lạnh ghê.
Rét nhiều nên lúa muộn,
Núi thấp bởi mây đè.
Rượu đến rốn quanh quẩn,
Tường mọc tai ướt nhè.
Xuân tàn mà chẳng biết,
Chim vượt núi sang tây.

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Ngô Linh Ngọc

Một mình dựa song Bắc,
Mưa dầm lạnh lẽo thay.
Lúa nghẹn trong giá rét,
Núi thấp dưới mây dày.
Tường ướt mọc tai nấm,
Rượu ào tràn rốn say.
Nào biết màu xuân lạt,
Chim lẻ vượt non Tây.


Nguồn: Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Một mình ngồi phía bắc bên song,
Lạnh lẽo mưa dầm buốt đến lòng.
Làm lúa rét nhiều toàn chín muộn,
Mây dầy xa núi thấp sà đồng.
Mưa lâu ngấm tường lên tai nấm,
Vào rượu quanh co xuống tận lòng.
Không biết màu xuân đã nhạt nắng,
Một chim bay vượt phía tây sông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời