Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Nam Tống, Kim
2 bài trả lời: 2 bản dịch
1 người thích
Đăng bởi hongha83 vào 04/03/2009 20:37

悲秋

秋燈如孤螢,
熠熠耿窗戶。
秋雨如漏壼,
點滴連早暮。
我豈楚逐臣,
慘愴出怨句?
逢秋未免悲,
直以懮國故。
三軍老不戰,
比屋困征賦。
可使江淮間,
歲歲常列戍?

 

Bi thu

Thu đăng như cô huỳnh,
Tập tập huỳnh song hộ.
Thu vũ như lậu hồ,
Điểm trích liên tảo mộ.
Ngã khởi Sở trục thần,
Thảm sảng xuất oán cú?
Phùng thu vị miễn bi,
Trực dĩ ưu quốc cố.
Tam quân lão bất chiến,
Tỷ ốc khốn chinh phú.
Khả sử Giang Hoài gian,
Tuế tuế thường liệt thú?

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trinh Đường

Đèn thu: chiếc đóm con,
Song cửa sáng le lói.
Mưa thu như giọt hồ,
Rả rích liền sớm tối.
Ta há phải Khuất Nguyên?
Thơ oán, đau tê tái.
Vì lo việc nước nhà,
Gặp thu, buồn chẳng khỏi.
Lính chết già không đánh,
Thuế sưu dân khổ ải.
Nỡ để vùng Giang Hoài,
Năm năm đồn thú mãi?


Nguồn: Thơ Lục Du, NXB Văn học, 1971
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lâm trung Phú

Đèn thu đom đóm nhỏ,
Song cửa sáng loà nhòa.
Mưa nhẹ như hồ rịn,
Điểm liền giọt sớm khuya!
Ta nào phải Sở trục,
Câu oán thảm làm ra.
Chưa hết buồn thu đến,
Bởi lo việc nước nhà!
Ba quân già hết trận,
Dân khốn khổ sưu tra,
Đã khiến Giang Hoài khúc,
Năm năm lính thú xa !!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời