Trang trong tổng số 14 trang (136 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Quế Lâm thập nhị vịnh kỳ 03 - Thê Hà tự (Phan Huy Thực): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Thả bước, Tinh Phong, đỉnh tối cao,
Ngỡ nương cánh hạc tới Doanh Châu.
Đá hoa sườn núi khai tiên động,
Tùng trúc đường mòn che Phạn lâu.
Cảnh vật muôn hình, thật tinh xảo,
Gót trần mấy độ được nhàn du!
Sơn tăng gặp gỡ không quen biết,
Trân trọng, hiên ngoài trà một âu.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Để Tầm Châu phủ (Phan Huy Thực): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Thuyền khách xuôi êm nhờ gió nam,
Bình minh cờ sứ đến châu Tầm.
Thẳm sâu đá trắng động mây mở,
Mờ mịt dòng xanh bãi biếc chìm.
Sơn quế còn truyền Nam Uý hiến,
Lầu sông mất dấu Lạc Thiên thăm.
Đọc xong thơ mới nhìn xa tắp,
Độc Tú non phơi tan chướng lam.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Chu trung khiển muộn (Phan Huy Thực): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Bè tiên, khách vạn dặm,
Thuyền sứ neo bên bờ.
Nóng nực ngại nâng chén,
Mõ canh khuấy giấc mơ.
Lòng quê mây Lĩnh ngoại,
Thi hứng bóng chiều tà.
Nâng mái bồng ngắm cảnh,
Thuyền về khói bến xa.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Yết Nhị Thanh động (Phan Huy Thực): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Ngàn non lớp lớp giậu phên xanh,
Mười bậc trèo lên đến Nhị Thanh.
Tạo hoá năm nao gây cảnh đẹp,
Cao nhân đất ấy trồng cây linh.
Nghìn thu hương khói chân dung tại,
Một mạch văn chương, phúc ấm dành.
Thăm cậu, nay may đường sứ thuận,
Đã tàn hương cúng, rượu đàn thanh.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Ngũ kinh toản yếu đại toàn tự (Phan Huy Cận): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Tôi lúc nhỏ theo học tiên sinh Tham chính họ Nguyễn người Lai Thạch. Thám hoa là con trưởng tiên sinh2, lớn hơn tôi chín tuổi, cùng học với tôi, dần dà nhiều năm tháng. Tôi may mắn trộm thu lượm được nhiều điều tốt đẹp để tự hoàn thiện mình cũng đã từ lâu. Tiếp đó ông và tôi lại cùng theo học quan Đông các họ Vũ và quan Thám hoa họ Đỗ, tình bạn bè đèn sách giúp nhau nên người đâu chỉ một sớm một chiều. Như vậy đấy.

Khoa Mậu Thìn (1748) ông đỗ tiến sĩ, khoa Giáp Tuất (1754) tôi cũng đỗ tiến sĩ, đường công danh hẹn ước, không thẹn trong đời từng được theo đòi thi thư giáo huấn, thày của chúng ta chẳng thiên vị một ai. Mùa hạ năm Bính Tý (1756) chia tay, tôi đi nhậm chức ở vùng đông nam, tình thương nhớ bạn luôn canh cánh trong lòng. Nay ngẫu nhiên
gặp dịp triều đình có đại lễ, tôi về kinh, nhân đó đến thăm ông. Chợt thấy trên án sách có bộ “Ngũ kinh” bản mới, liền mở xem, thì thấy chính là bộ sách quen thuộc ông vẫn hàng ngày tụng đọc.

Ôi! Môn Kinh học trên đời này, đối với thư tịch chú giải của các Nho gia, việc lược bỏ những chỗ bề bộn, chọn ra những điều cốt yếu, thì mỗi nhà đều có sách riêng. Nhưng nếu chọn một bản in ra để giúp cho mọi người cùng có thể đọc mà hiểu tường tận thì chưa có sách nào đầy đủ và giản dị như sách này. Tôi vui mừng, vì thế viết mấy lời đề ở đầu sách.

Năm Mậu Dần, niên hiệu Cảnh Hưng (1758), “quyến đệ” là Phan Cận, Đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754), Hàn lâm viện Hiệu thảo, Thự Hải Dương xứ Án sát sứ, người Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc đề tựa.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Bắc vọng hữu hoài, ngũ ngôn cổ thập ngũ vận (Phan Huy Ích): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Rời nhà hơn ba tháng,
Làm khách ngàn dặm xa.
Ngoái lại, mờ sương khói,
Vẫn biền biệt tin nhà.
Nơi ấy quê mình nhỉ,
Lòng nào không thiết tha!
Cháu con, đứa đã lớn,
Đứa hãy còn u ơ.
Đứa mới lọt lòng mẹ,
Gái trai, chưa tin thư!
Đoàn tụ là mong ước,
Cùng cháu con vui đùa.
Bảo Chân, ngôi tiên quán,
Ta tới lui vẩn vơ.
Thềm vắng hoa rủ bóng,
Sen trắng nhô mặt hồ.
Bốn phía cửa không bụi,
Gió đông quen mặt ta.
Người và cảnh xa cách,
Nỗi nhớ về trong mơ.
Chim bay cũng mỏi cánh,
Tình quê khó khuây khoa.
Nhà nhỏ nhàn năm tháng,
Cửa sài chỉ khép hờ.
Chim ca mời nâng chén,
Yến oanh cùng líu lo.
Phá nỗi sầu uất kết,
Cảnh vật đều nên thơ.
Mừng đôi chân vẫn mạnh,
Mùa dưa đà sắp qua!


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Điệp tử thư trung (Nguyễn Du): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Thư phòng từng đã ưa mùi sách,
Từ bỏ phong lưu há phải cuồng.
Mệnh bạc có duyên lưu giấy mực,
Hồn tàn khôn lệ khóc văn chương.
Đố ngư dễ tỉnh mơ vinh hiển,
Lưa đóm khôn thiêu dạ gấm hương.
Nghe đạo một lần vui được chết,
Mê văn hơn để luỵ hoa vương,


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Bất mị (Nguyễn Du): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Không ngủ nghe cầm canh,
Canh dài như chăng dứt.
Quan san mộng vấn vương,
Chày nện gió lạnh ngắt.
Nhà tối giun bò ra,
Bếp hoang cóc ngồi chật.
Nhẩm đọc thiên “Hỏi trời”,
Hỏi đâu trời cao ngất!


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tống Nguyễn Sĩ Hữu nam quy (Nguyễn Du): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Núi Nam chim đẹp ngậm tinh hoa,
Coi rẻ lưới giăng, bay lại qua.
Hồng Lĩnh đã về người chủ mới,
Bạc đầu đành vẫn khách không nhà.
Phượng trong lồng nát: văn xơ xác,
Rắn lủi hang sâu: danh thoảng qua.
Về lại cố hương trăng gió mát,
Song trưa, dứt mộng nẻo trời xa.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Đề đại tư đồ Xuân Nhạc công từ (Lê Quý Đôn): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Phò giúp ba triều công đệ nhất,
Đại khoa chọn được đại anh tài.
Bốn phương lừng lẫy hàng phiên tướng,
Sáu chữ vương phong, ông thứ hai.
Kinh lí vùng Man mưu lược lớn,
Khoan hoà nhân hậu tiếng truyền đời.
Binh phù tướng ấn là gia bảo,
Phúc lộc vinh hoa mãi mãi dài.


Trang trong tổng số 14 trang (136 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: