Trang trong tổng số 55 trang (543 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Cổ ý (Thôi Quốc Phụ): Bản dịch của Đất Văn Lang

Thềm vàng sạch bóng nằm im
Sương thu như tuyết lặng chìm vào đêm
Tiếng đàn gợi nỗi sầu thêm
Mắt buồn chẳng dám vén rèm nhìn trăng.


Ảnh đại diện

Cổ ý (Thôi Quốc Phụ): Bản dịch của Đất Văn Lang

Thềm thu sạch tợ băng
Sương trắng rơi như tuyết
Ngồi rải phím buông rèm
Tránh nhìn lên bóng nguyệt


Ảnh đại diện

Tần trung ngâm kỳ 05 - Bất trí sĩ (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Đất Văn Lang

Bảy mươi thì cáo nghỉ
Lễ pháp đã ghi mà
Sao mãi bám vinh hoa
Như chưa từng thấu rõ
Lạ đời tám chín mươi
Răng rụng mắt mờ rồi
Sáng đuổi đeo danh ảo
Chiều về với cháu côi
Tiếc tua xanh chót mũ
Tiếc bánh đỏ thân xe
Xộc xệch đai eo lỏng
Lum khum mảnh lưng còm
Ai mà chê phú quý
Ai chẳng luyến hồng ân
Tuổi cao thì cáo lão
Danh toại hãy về nhàn
Lúc trẻ đều chê trách
Khi già lại bám đeo
Nhị lão Thư triều Hán
Từ quan tuổi xế chiều
Cửa đông xưa vắng lạnh
Chẳng một người noi theo


Ảnh đại diện

Tần trung ngâm kỳ 04 - Thương hữu (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Đất Văn Lang

Chàng hàn sỹ ở cùng ngõ hẹp
Bước ra đường khép nép đi mau
Tuy đầy ý chí vươn cao
Nhưng giờ rách mướp thì sao ngẩng đầu

Xưa tới lớp cùng nhau từ nhỏ
Nay tới triều đã có cân đai
Đã từng gắn bó thuở trai
Bây giờ tách biệt rẽ hai nghèo giàu
Chạm mặt lúc tan chầu ra cổng
Bạn ngồi xe ngựa phóng qua nhanh
Trời mây vần vũ xung quanh
Ba ngày mưa gió khắp thành lẫn quê
Ta - lừa ốm bên lề khép nép
Bạn - ngựa cao bờm đẹp hí vang
Đi qua hờ hững liếc ngang
Ra roi thúc ngựa sỗ sàng chẳng vương
Năm xưa ở Lạc Dương nghèo khó
Bước cùng đường cùng khổ gian nan
Bây giờ ở đất Trường An
Sang hèn cách biệt lòng ngàn dặm xa

Giờ nhân thế vốn là như thế
Chẳng riêng gì ai tệ hơn ai
Nghĩa tình sống chết không phai
Xưa nay chỉ có hai ngài Nhậm - Lê.


Ảnh đại diện

Tần trung ngâm kỳ 03 - Thương trạch (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Đất Văn Lang

Toà dinh thự mặt tiền đại lộ
cửa sơn son của hộ nào đây?
Phòng sang nối tiếp liền dây
Dựng tường cao kín rào quây vòng ngoài
Đến sáu bảy lâu đài cách biệt
Các dãy thềm nối tiếp thông nhau
Mỗi toà bạc triệu ít đâu
Khói trầm nghi ngút ngạt ngào hương thơm
Phòng cao rộng bấc nồm đều mát
Trời lạnh căm, nóng rát chẳng lo
Toà lầu hóng gió cao to
Ngồi nằm đều thấy tận gò Chung Nam
Hành lang phủ tử đằng tim tím
Thược dược hồng chen kín hành lang
Hái đào chỉ với lên cành
Mẫu đơn dời chậu không đành bỏ hoa
Chủ nhân ngự trong toà dinh đó
Làm quan to chỉ độ mười niên
Bếp thừa thịt thối triền miên
Kho đầy xâu nặng đồng tiền rỉ han
Có ai hỏi đại quan dùm mỗ
Ít nhiều trong tộc họ nhà ông
Ắt là có kẻ khốn cùng
Sao đành chẳng giúp một đồng tiền trinh?
Đành phè phỡn riêng mình vậy chứ
Biết trăm năm dinh thự có bền?
Xưa nhà Mã Viện núi tiền
Nay thành bãi cỏ công viên xanh rì!


Ảnh đại diện

Tần trung ngâm kỳ 01 - Nghị hôn (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Đất Văn Lang

Chẳng tiếng nói nào là chánh trực
Miễn thuận tai lập tức vui nhanh
Dung nhan cũng chẳng rõ rành
Miễn là vừa mắt là thành giai nhân

Vốn thật khó mà phân nhan sắc
Nhưng giàu nghèo thì khác một trời
Người nghèo ắt bị bỏ rơi
Giàu thì chen chúc tận nơi hỏi chào

Gái nhà giàu ở lầu gác tía
Áo gấm thêu kết vỉa ren vàng
Ra đường hất mặt vênh vang
Mười lăm mười sáu điểm trang đã rành
Chẳng ai cậy mối manh đã tới
Việc chọn chồng chẳng hối cũng xong

Gái nghèo lặng lẽ bên song
Hơn hai mươi tuổi mà không có gì
Trâm cài gỗ có chi đáng giá
Áo đính vài hạt giả ngọc thôi
Cũng vài đám định dạm lời
Nhưng rồi lưỡng lự rồi hồi lại mau

Có người sắm cau trầu rượu hỏi
Đến cậy nhờ bà mối tìm dâu
Khoan khoan, chớ vội uống liền
Đợi nghe cho rõ hai giềng tỏ phân

Gái nhà giàu đa phần lắm mối
Gả sớm nên hay dỗi nhà chồng
Gái nghèo chờ mãi mới xong
Lớn rồi nên khéo hợp hợp lòng thông gia

Nghe ông muốn lấy vợ à,
Giàu nghèo hai ngả, ông chọn nhà nào đây?


Ảnh đại diện

Tần trung ngâm kỳ 02 - Trọng phú (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Đất Văn Lang

Ruộng màu mỡ, dâu đay xanh mượt
Dân dễ dàng lo cuộc mưu sinh
Ngày ngày nghề dệt càng tinh
Xóm làng sung túc gia đình ấm no

Phần nộp thuế để cho vua hưởng
Cũng giúp người phụng dưỡng song thân
Thuế chia ra nộp hai phần
Ý là khoan sức cho dân được nhờ
Cũng là để ngăn hờ nhũng lạm
Ngừa tham quan xâm phạm của dân
Ai mà liếm láp một phân
Cũng là phạm pháp phải cần trị ngay

Nhưng dần hết năm này năm khác
Những ngón nghề tham ác hiện ra
Thu mười chỉ nộp hai ba
Lại vơ cho đủ dù là đông xuân
Dù tơ vẫn non cân còn ẩm
Lụa dệt chưa thành tấm hẳn hoi
Chúng xui người hối thúc rồi
Không cho thư thả mà đòi nộp ngay

Cuối thu lại nối ngày đông giá
Gió bấc luồn khắp cả xóm thôn
Dân không củi sưởi đêm mòn
Ngoài trời mưa tuyết lại còn bủa vây
Gió lạnh thấu thân gầy lũ trẻ
Áo cụ già nhúm giẻ rách bươm
Nằm ho sù sụ trên giường
Hít vào hơi lạnh mũi dường cay cay

Hôm qua vét gia tài nộp thuế
Trộm nhìn vào cửa hé kho quan
Lụa cao như núi hàng hàng
Sợi, tơ đống đống chất ngang mây trời
Quản kho nói của dôi ra đó
Hàng tháng dâng lớn nhỏ trong cung
Trời ơi cướp kẻ bần cùng
Để xin ân sủng đỉnh chung vậy à!?

Kho vua dồn lụa gấm sa
Nhiều năm chẳng đụng hoá ra bụi trần


Ảnh đại diện

Hung niên hỉ vũ (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Sinh thời chỉ thấy mùa màng thế
Sâu rầy hạn úng mãi hành dân
Trong nhà cháo phải chia bầy trẻ
Trước cửa gà đành mổ rắn ăn
Vay bị phú hào thu lắm lãi
Đọc thì mối mọt gặm tưa văn
Mưa giúp kho đầy dân trúng vụ
Mong sao vụ tới lúa muôn ngàn


Ảnh đại diện

Hung niên hỉ vũ (Nguyễn Khuyến): Đất Văn Lang

Dịch nghĩa:
Năm mất mùa mà mừng được mưa.

Từ khi sinh ra, gặp thời mùa màng cứ như vậy,
Hạn hán, châu chấu, ngập úng lại liên tiếp nhiều năm.
Đói khát, trẻ trong nhà còn phải chia phần cháo,
Kiếm ăn, gà ngoài sân (còn dám) mổ cả rắn để ăn.
Đi ở, đi vay, rốt cuộc cũng chỉ làm lợi cho bọn nhà giàu,
Sách vở thì chỉ đọc những trang mối gặm còn sót lại.
May nhờ trời mưa rơi, kho thóc nhà nước và nhà dân đều được lợi,
Sang năm mong thu hoạch được muôn ngàn thóc lúa.


Ảnh đại diện

Hoàn gia tác (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Mười năm gió bụi, về quê cũ
Răng rụng mắt mờ tóc rối bay
Sững sốt đường xưa đầy cỏ bụi
U sầu nhạn lạc chín tầng mây
Trẻ canh cửa réo: ông về tới!
Người giữ tiết ngờ: phải bác đây?
Lặng lẽ tựa vào song cửa lạnh
Sương khuya trăng xế, nỗi vơi đầy


Trang trong tổng số 55 trang (543 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: