Trang trong tổng số 4 trang (31 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Nha tường nguyệt thi (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Lê Hữu Phước

Trăng sáng trời cao giọt đồng chậm.
Như mảnh gương trong mắc cánh buồm.
Như ban ngày núi sông vời vợi.
Vịn lan can đêm vẫn chưa tàn.


Ảnh đại diện

Nha tường nguyệt thi (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Trần Vân Long

Vằng vặc giữa trời khắc chậm trôi
Trăng như gương sáng mắc buồm ai
Núi sông cẩm tú ngời trong mắt
Đêm tựa lan can khắc khoải dài...!


Ảnh đại diện

Lâm tứ nương truyện (Bồ Tùng Linh): Bản dịch của Nguyễn Đức Lân

Mười bảy năm trời chốn thâm cung
Nỗi niềm nước cũ, hỏi ai cùng?
Khi nhàn chỉ ngắm đài cùng gác
Khắc khoải trông vua, lệ nhớ mong
Sóng nước biển xanh, chiều tà ánh
Hán gia lặng trống, khói mung lung
Sức yếu hồng nhan khôn gắng gỏi
Yếu đuối, lòng đau tựa cửa Không
Bồ Đề ngày tụng trăm, nghìn chữ
Lá Bối nhàn xem ba, bốn cung
Vườn lê cao xướng, ca thay khóc
Chàng đọc mà xem cũng lệ ròng


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Hương Ngọc truyện (Bồ Tùng Linh): Bản dịch của Nguyễn Đức Lân

Tương tư khổ ấy khôn nguôi
Ngồi bên cửa sổ, ngậm ngùi tình ta
Sợ nàng đã thuộc Xa Đà
Con người tuyệt sắc biết là tìm đâu?


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Quyên thanh (Thái Thuận): Bản dịch của Trần Vân Long

Đất Thục giờ thành hoang phế
Niềm đau sao chẳng chôn sâu
Tháng ba hoa rơi lả tả
Quyên kêu rỏ máu không thâu
Trang Tử khó mơ thành bướm
Vượn Ba cũng phải kém sầu
Xa quê khổ vì nhung nhớ
Vì mi khiếp chẳng lên lầu...!


Ảnh đại diện

Tự chí (Bồ Tùng Linh): Bản dịch của Tản Đà

Đai dây áo lá, họ Tam Lư ngùi cảm viết văn Tao; Thần rắn ma trâu, cậu dài móng ngâm nga thành bệnh nghiện. Thú ngâm vịnh thiên nhiên tự thích, câu dở hay có chọn làm chi? Ấy như thế, phải vậy.

Tùng: Một ngọn đèn xanh lửa đóm, hắt hiu tranh sáng với loài ma; Bao phen dặm cát bụi hồng, tất tả khêu cười cho lũ quỷ. Tài học ví đâu Can Bảo, sách Sưu thần muốn chép như ai. Tình hoài giống với Hoàng Châu, truyện ma quỉ thích nghe người nói. Nghe câu nào chép câu ấy, góp truyện ngắn nên tập dài. Ngày lâu càng lắm nơi gởi cho, người thích cho nên của tìm đến.

Nhiều quá đến: Rõ việc người đời hiện đó, lạ lùng nới cắt tóc còn thua. Cái lông trước mắt không xa, quái gở nước bay đầu chưa đến thế. Vung vênh lúc hứng, chẳng quản ngông cuồng. Chuếnh choáng vui lòng, kiêng gì ngây dại. Người đời ai đó, khỏi sao lắm kẻ cười ta ru. Nhưng ngã ba đường cái, dù truyện nghe câu được câu chăng. Mà hòn đá ba sinh thì hiểu có kiếp sau kiếp trước. Câu nói liều lĩnh chưa hẳn đã nên vì mình mà bỏ qua.

Tùng, trong lúc treo cung, tiêu đại nhân mộng thấy một vị Cồ Đàm gầy ốm, trần một cánh tay mà đi vào nhà, có miếng thuốс cao tròn như đồng tiền, dán ở nơi chỗ vú. Tỉnh thời Tùng đẻ ra, nốt ruồi đen đúng như thế.

Đã thế lại: Lúc bé gấy gò lắm bệnh, lớn lên số mệnh kém người. Sân nhà vắng lạnh như buồng sư. Bút mực kiếm ăn như cái bát. Lắm lúc vò đầu tự nghĩ: Có lẽ người nhìn mặt vào trong vách đá, chính là đời trước của ta ru? Hẳn chi rò rủa căn nhân, người trời vẫn chưa đây quả phúc. Mà mới gió đưa rơi rụng, giậu bùn nên nỗi tủi thân hoa. Sáu đường man mác, chớ nên cho lẽ đó là không vậy.

Chỉ như nay: Đêm vắng canh khuya, đêm tàn vạc bấc. Buồng văn gió lót, án lạnh ngờ băng. Góp da nách làm áo cừu, nổi khuấy U Minh câu chuyện cũ. Rót chén rượu vần quản bút, học theo Cô Phẫn sách người xưa. Trăm năm thân thế, như thế mong nhờ, nghĩ đáng ngùi thương vậy.

Than ôi! Sợ sương con én lạnh, ôm cây nào có ấm gì thân. Viếng nguyệt cái trùng bay, ấp triện còn mong hơi có nóng. Biết ta ai hỡi, có chăng nơi ải tối, rừng xanh.

Năm Kỷ Mùi, đời Khang Hy, ngày mùa xuân. Liễu Tuyền cư sĩ đề tựa.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Sư ông chầu văn cho hai ả lên đồng (Khuyết danh Việt Nam): Tác giả bài thơ

Cho tôi hỏi, bài thơ trên có phải là thơ của Trần Tế Xương không?


Ảnh đại diện

Sư ở tù (Trần Tế Xương): Góp ý (bổ sung dị bản + chú thích)

Sư ở tù (1) (a)

Quảng đại từ bi cũng phải tù,
Hay là sư cũng vụng đường tu? (2)
Tụng kinh cứu khổ ba trăm quyển
Ý hẳn còn quên một phép phù? (3)
Dị bản:
(a) Ông sư chùa Cuối
________________________
(1) Sự kiện này xảy ra vào năm 1903. Một tên quan ba Pháp chỉ huy việc xây trại lính ở Năng Tĩnh (gọi là Căng Carô), tới đóng tạm ở chùa Cuối, Nam Định. Y bị trộm lấy cắp hòm tiền phát lương lính. Sư cụ chùa Cuối bị tình nghi và bị bắt tra hỏi cùng với hơn chục người nữa, mươi ngày sau không có chứng cứ mới được tha.
(2) Sách của NXB Kim Đồng (2024) ghi là: “Hay là sư cụ vụng đường tu?”
(3) “phép phù”: phép thầy phù thuỷ, có thể thần thông biến hoá (quan niệm mê tín trước đây)


Ảnh đại diện

Gái goá nhà giàu (Trần Tế Xương): Góp ý (bổ sung dị bản + chú thích)

Gái goá nhà giàu (1)

Ta thấy người ta vẫn bảo rằng:
Bảo rằng thằng Cuội ở cung trăng (2),
Cõi đời cũng lắm (a) nơi thanh quý,
Chị Nguyệt (3) dung chi đứa tục tằn (b).
Mình tựa (c) vào cây, cây chó ỉa,
Chân thò xuống giếng, giếng ai ăn.
Con người như thế mà như thế (4),
Như thế thì ra (d) nghĩ cũng xằng.
Dị bản:
(a) Vùng trời đâu thiếu
(b) cục cằn
(c) Ngồi tựa
(d) ta xem
_________________
(1) Bài thơ được cho là nói về một bà goá chồng khi còn trẻ, nhờ buôn thóc gạo nên giàu có. Bà thuê một người tài phú (người trông coi quản lý mọi việc giúp chủ) ở trong nhà do đó dư luận dị nghị. Tác giả vốn có quan hệ thân tình nên làm thơ nhắc nhở.
(2) “thằng Cuội ở cung trăng”: truyền thuyết xưa coi mặt trăng là cung điện của nàng Hằng Nga. Đây ý nói: kẻ phàm tục lọt vào nơi thanh quý.
(3) Chị Nguyệt sao lại đi dung thằng Cuội? Ý hỏi bà goá nhà giàu sao lại dung nạp kẻ ấy.
(4) Hai chữ “như thế” được dùng với hai nghĩa khác nhau.


Ảnh đại diện

Đổi thi (Trần Tế Xương): Góp ý (bổ sung chú thích)

Đổi thi (*)

Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì!
___________________________________
(*) Từ khoa Quý Mão (1897) bắt đầu đổi thi: ngoài phần văn bài chữ Hán, có phần hỏi về chữ Quốc ngữ. Tú Xương rất khó chịu về sự thay đổi này nhưng vẫn đi thi. Sau đó, các khoa thi tiếp, cứ tăng dần phần Quốc ngữ và có thêm các môn toán, sử kí, địa dư và cách trí.


Trang trong tổng số 4 trang (31 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: