Trang trong tổng số 986 trang (9853 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối
Gửi bởi tôn tiền tử ngày Hôm kia 22:30
Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo tự, thờ thần Pháp Vũ nên còn gọi là chùa Pháp Vũ (Pháp Vũ tự) thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình. Chùa Đậu nằm trong hệ thống này ra đời từ khá sớm (1). Về lịch sử kiến tạo chùa Đậu được xây dựng từ thời Lý, tu bổ và tái tạo vào các thời Trần, Mạc, Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Thời Lê trung hưng cùa Đậu khá khang trang, được vua Lê Thần Tông (1649-1668) ban sắc phong cho chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” (Danh lam số một của nước Nam). Trải bao phen thiên tai, địch hoạ, chùa Đậu ngày nay vẫn còn lưu giữ được khá nhiều di vật quý như rồng đá thời Trần, gạch vào bệ đá hoa sen thời Mạc, những bức phù điêu gỗ thời Lê trung hưng, hai pho tượng là thi hài hai nhà sư được ướp giữ vào đầu thế kỷ 17, cùng bia đá, chuông đồng, sách đồng, sắc phong… Đặc biệt hơn, ở đây còn có hai bài thơ Quốc âm khắc trên hai biển gỗ thời Lê Trịnh. Một bài đã được chép trong Khâm định thăng bình bách vịnh tập và một trong Hồng Đức Quốc âm thi tập (2). Bài viết này xin giới thiệu toàn bộ văn bản khắc trên hai biển gỗ đó và một số kiến giải của chúng tôi.
1. Biển gỗ và văn bản trên biển gỗ
Cả hai biển gỗ đều là hình chữ nhật, được vát chéo hai góc phía trên. Một biển có kích thước là 0,95x0,45m (chúng tôi gọi là biển gỗ thứ nhất). Một biển có kích thước lớn hơn: 1,20x0,65m (gọi là biển gỗ thứ hai). Đường diềm mặt sau biển gỗ thứ hai trang trí đề tài “Lưỡng lòng triều nguyệt”. Văn bản được khắc toàn bộ ở mặt trước biển gỗ. Bài thơ trên biển gỗ thứ nhất có chữ “ngự đề” và tên bài thơ cùng dòng niên đại. Bài thơ trên biển gỗ thứ hai có lời dẫn và dòng niên đại.
- Văn bản khắc trên gỗ thứ nhất bằng chữ Nôm, tạm phiên âm như:
Ngự đề- Văn bản khắc trên biển gỗ thứ hai, gồm lời dẫn bằng chữ Hán và bài thơ viết bằng chữ Nôm. Lời dẫn bằng chữ Hán tạm dịch như sau: “Giữa nơi bằng phẳng của vũ trụ, cảnh chẳng có mây hồng ráng tía, thú không có vách đá muôn hình mà tạo thành một thế giới” lưu ly. Chùa Pháp Vũ thuộc đất Gia Phúc thật kỳ vĩ. Trên mặt đất nổi lên đài sen, lầu son sáng rạng. Cây cỏ xum xuê rủ kín một trời, cành dương tốt tươi nhuần che muôn vật. Gió lành rười rượi hoà cùng lá bối, trăng sáng lung linh ánh với đàm hoa. Bốn phương rộng lớn đuốc tuệ dõi xa. Trăm sông về một mối, thuyền từ cập bến thiêng. Tinh linh mồn một như hiện ngay trước mắt. Công đức chất chồng không bề lượng tính. Ngẫu hứng trước danh thắng mà ngầm ngợi rằng...”
Pháp Vũ tự thi (3)
Vô biên công đức dậy lừng danh,
Phơi ngỏ hồ thiên cảnh tứ thanh.
Ngọc thỏ một vầng in địa trục,
Bàn long đòi thế mở đồng tranh.
Cầm thông gió quyến khi tuyên pháp,
Hoa báu mưa rây thuở diễn kinh.
Tiết gặp thăng bình nhân thưởng ngoạn,
Tuệ quang hay được khí chung linh. (4)
(Vĩnh Thịnh thập tứ niên thập nguyệt sơ cửu nhật) (5)
Thanh quang mẽ mẽ chốn giao quang,2. Niên đại và tác giả
Gấp mấy trần gian mấy thế thường.
Cả mở tượng đồ, đồ tuệ chiếu,
Vẹn gồm khoa lục, lục kim cương.
Duềnh thâu bích hải, duềnh quanh quất,
Sắc ánh từ vân, sắc rỡ ràng.
Đức thịnh ngày càng ngày hiển ứng.
Rành thay rành rãnh dấu đăng hương. (6)
(Chính Hoà Mậu Dần mạnh xuân cốc đán) (7)
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 08/08/2026 18:12
Ba tháng thu lạnh lẽo,
An nhàn một lão ông.
Tắt đèn đi ngủ trễ,
Mưa thu say giấc nồng.
Bình sưởi tàn tro ấm,
Chăn gối thoảng hương nồng.
Sáng trời chưa muốn dậy,
Sương nhuốm lá đỏ hồng!
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 08/08/2026 16:32
Mưa tạnh lên cao ngắm,
Lầu tây gió thổi nhiều.
Khói sóng mờ thu thuỷ,
Mưa ngâu phớt nắng chiều.
Chim núi nương cây đậu,
Côn trùng ra rả kêu.
Chỉ mong chờ trăng mọc,
Ngàn dặm nhắn người yêu!
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 08/08/2026 16:29
Về đi thôi, hãy về đi thôi!
Một tiếng cuốc kêu đã sầu rồi,
Hai tiếng thương tâm ba tiếng nhớ,
Lòng ta đã theo với mây trời.
Bốn tiếng đến sân hoa tử kính,
Trăng tà năm tiếng trước song rơi.
Dưới hiên bóng nguyệt xế rồi,
Nhớ người năm cũ bên trời đưa thoi.
Sáu tiếng quyên mửa máu rồi,
Hoen cành lan tím chơi vơi trước thềm.
Bảy tám rồi chín tiếng liền,
Bật ngồi rơi lệ im lìm như mưa.
Quê nhà nhớ những ngày xưa,
Nghe quyên đêm vắng lòng chưa thấy buồn.
Nay Kim Lăng vạn dặm đường,
Mới hay quyên hót sầu thương bạc đầu!
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 08/08/2026 16:27
Tiêu ngọc dứt rồi, năm cũng thôi,
Sầu xuân phủ kín cỏ cây rồi.
Mây mưa tan tác theo người ngọc,
Lầu phụng thẩn thờ trăng lẻ loi!
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 08/08/2026 16:23
Núi xanh vây phủ lấy hoàng châu,
Trời tạnh trùng dương lên bắc lâu.
Đình cúc sau mưa vàng sắc mượt,
Ngự lê sương nhuốm ửng màu thu.
Thù du cài lẫn hoa trường thọ,
Phỉ thuý vắt chung tóc gợi sầu.
Chả trách Đào Tiềm say dưới giậu,
Bao lần được thấy nét phong lưu!
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 06/08/2026 11:49
Cây chiều sông tạnh sắc xanh xanh,
Bãi cát xa khơi bước một mình.
Tránh khách, âu chiu nằm bụi lách,
Rình mồi, cò đói đứng đầu ghềnh.
Gió thu không để hồ êm sóng,
Bóng xế làm cho khách rộn tình.
Phạm Lãi thuyền chơi đâu đó nhỉ?
Thuyền câu mấy bóng thấy lênh đênh.
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 06/08/2026 11:47
Nhà dân lác đác bóng cây lồng,
Chòm xóm nằm quanh suối lượn vòng.
Một dải đông nam hồ tiếp biển,
Ba phần tây bắc núi liền đồng.
Tôm khe béo ngậy, say ngư phủ,
Cỏ nội xanh um, rảnh mục đồng.
Bãi trắng trúc xanh không bụi đỏ,
Đi, về khách ẩn cứ thong dong.
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 06/08/2026 11:10
Núi sâu có hổ lang,
Đầm rộng nhiều kinh ngạc.
Trên đời đầy giáo gươm,
Thân trốn đâu cho thoát?
Ruồi nhặng chỗ ồn ào,
Muỗi mòng nơi vắng vẻ.
Sao hai giống trùng kia,
Nỡ theo người cắn xé?
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 06/08/2026 11:06
Tối sầm gió bụi hút mờ trồng,
Cầy cáo trên bờ dưới nước rông.
Tin báo cứ dồn, quan tướng bại,
Thư về thường thấy, bóng quân không.
Ăn rau còn có người rơi lệ,
Chán thịt nào ai kẻ đoái lòng?
Nước đến chân rồi mà chẳng biết,
Đáng thương gấm vóc dải non sông.
Trang trong tổng số 986 trang (9853 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối