Chưa có đánh giá nào
Nước: Việt Nam (Cận đại)
1 bài thơ, 1 bài dịch

Tác giả cùng thời kỳ

- Nguyễn Khuyến (273 bài thơ)
- Tản Đà (335 bài thơ)
- Trần Tế Xương (170 bài thơ)
- Phan Bội Châu (211 bài thơ)
- Phan Chu Trinh (64 bài thơ)
Tạo ngày 04/02/2016 10:24 bởi tôn tiền tử
Trần Tán Bình (1868-1937) tự Nhụ Hoàng, sinh tại làng Do Lễ (Ðỗ Xá), xuất thân Nho học, văn chương lỗi lạc, thi đậu tiến sĩ đời vua Thành Thái, vì bài thi phạm huý nên bị đánh xuống phó bảng. Trong thời kỳ làm quan dưới triều đình Huế, ông mở mang các trường học, xây dựng đường xá, đắp đê, giúp đỡ và khuyến khích những cơ xưởng làm đồ xuất cảng như dệt chiếu, vải. gai, dệt thảm, đồ gốm tại tỉnh Thái Bình, Nam định, Ninh Bình. Ông hay làm thơ nói thật, không nể ai. Tính nóng và thẳng nên nhiều người yêu và cũng nhiều người ghét. Thơ của ông nhiều tính hài hước, châm biếm pha lẫn thời thế, chính trị, vì con cháu bỏ không ghi lại, nên thất lạc rất nhiều.

Một số tài liệu cho rằng ông là tác giả của bài Á Tế Á ca, và là người dịch bài Di chúc văn của Nguyễn Khuyến.

 

Thơ dịch tác giả khác