
Chàng từ nấn ná ,
Toà mệnh , cửa rồng chí .
Nom , tắm ,
giặt dải, gióng đàn.
Bóng thư đăng tỏ thiền quan,
Càng gào mõ cá, càng giàn kinh lân.
Bỗng nghe đồn tiếng huyện thân,
1190. Bậc sư biểu có cao nhân tót vời.
Giong lừa nghìn dặm xa xôi,
Đường thanh vân rộng đón người thanh xuân.
Cửa Trình thoắt đã gần gần,
Nam lâu dưỡng tính, tây tân kén tài.
Bèn vào yết chốn thư đài,
Trương công gạn hỏi mọi lời phân minh.
Kim lang trạnh tủi gia tình,
Vả người mà mình lũ lam.
Lẽ đâu tỏ nỗi hương quan,
1200. Thưa trình: “Quê ở Thanh Lan miền gần.
Gia đình xảy gặp truân chiên,
Ngậm sầu cố quốc, đeo phiền tha hương.
Trộm nghe danh giá cao đường,
Dám đem thân mọn ngụ nương cửa hầu.”
Trương công thử thách mọi mầu,
Đã thông kinh sử, lại lầu văn chương.
Truyền người dọn mái thư đường,
Cảnh tình lắm vẻ thanh quang lạ lùng.
Sẵn sàng văn phòng,
1210. Hương đầm mực bách, hoa lồng giấy dương.
Cầm ly gióng giả câu lan,
Trúc êm bút thế, đá quang .
Lời uẩn áo, lẽ huyền vi,
Lân la đàn hạnh, gần kề tiếng chuông.
Trương công thấy vẻ văn phong,
Xót tài, vả lại có lòng trọng nho.
Cơm xẻ với, áo nhường cho,
Đạo cao phép nhiệm, nhỏ to dạy truyền.
Kim lang ăn ở ngụ miền,
1220. Gác đường hoa liễu, mảng bên .
Thuỵ nương ở mái lầu xuân,
Sửa sang , chuyên cần nữ công.
Nhân dệt thắm, đức thêu hồng,
Đạo vờn bức vẽ, nghĩa lồng quyển thơ.
Phải khi giở đến ,
Dường ngao ngán nỗi, dường ngơ ngẩn chiều.
Oanh xem kém vẻ mỹ miều,
Gửi nàng xuân sắc dường đeo đẳng phiền.
Nàng rằng: “Cũng có sự duyên,
1230. Nhưng mà hầu dễ hỏi nên được nào:
Phạm, Trương xưa nghĩa tương giao,
Thề nguyền hai họ ước ao một lời.
Kính, sơ đôi chiếc đôi người,
Bỗng phong trần khiến cách vời non sông.
Dễ mà nhạn cá cho thông,
Băn khoăn dạ bác, não nùng duyên con.
Ngậm ngùi kẻ khuyết người còn,
Mà lời bể cạn non mòn làm sao?
Hỏi thăm mấy kẻ ra vào,
1240. Càng nghe những nỗi âm hao càng phiền.
thay dấu đổi nền,
Đặc sân lá thắm, in thềm rêu xanh.
Biến dời mấy lớp vân tinh,
Dọi tường liệt nhật, treo cành .
Chàng thì chịu tiếng phi thường,
Biết là dặm tuyết ngàn sương chốn nào.
Nhân duyên ai há nỡ liều,
Chẳng dời gan đá, chẳng xiêu dạ vàng.
Hoá nhi mà chẳng binh thương,
1250. Một đường nước chảy, một đường lầu không.
Kẻo mà duyên phận long đong,
Đành rằng một kiếp má hồng mà thôi.”
Oanh rằng: “Ly hợp bởi trời,
Sức đâu mà xiết sự đời thiệt hơn.
Miễn là yên phận thanh nhàn,
Chớ lo chầy kịp, chớ bàn gần xa.
Hãy xin nâng nhắc ngọc ngà,
Kẻo khi sương nhuộm gió pha lạnh lùng.
Nguyệt vừa tỏ, tuyết vừa đông,
1260. Đào êm lá thắm, mai phong nhị vàng.
Lồng vẻ gấm, đượm mùi hương,
Kia hoa mới nở, nọ gương chưa loà.
Mà sao để lệ xuân già,
Ngại ngùng chữ phận, nẫu nà chữ duyên.
Thôi thôi xin chớ lo phiền,
Kính, sơ ắt cũng có phen soi, cài.”
Nàng rằng: “Oanh nói một lời,
Dập tàn lửa ái, tẩy vơi sóng tình.”
Đỡ sầu, mượn khúc dương tranh,
1270. một điệu, dường hình oán thu:
Tuyết sương lác đác, nguyệt mờ mờ,
Quế nhạt hương đưa,
Sen nhạt hương đưa.
Rải rác trên không nhạn lẳng lơ,
Oanh cũng thờ ơ,
Bướm cũng thờ ơ.
Chồi ngô gió thổi lá bơ sờ,
Mai ủ hình thơ,
Trúc ủ hình thơ.
1280. Khúc dạ thanh ca khéo hững hờ,
Cung Quảng xa xa,
Cầu Thước xa xa.
Xa xa cầu Thước mấy lần,
Đề Ngưu, Nữ cách sông Ngân lạnh lùng.
Vẻ Nghê vũ, xếp phong bên trướng,
Lối cung tiên, dễ mượn ai đưa.
Cẩm vân mấy bức tình thư,
Thờ ơ thay cá, ngẩn ngơ thay nhàn.
Gượng vui gảy cung đàn một khúc,
1290. Phím uyên ương lắm lúc chùng dây.
Nhân duyên khéo ngẩn ngơ thay,
Chẳng hay dì gió quấy rầy làm sao?
Chàng đương tựa mái lầu cao,
Tiếng đàn văng vẳng lọt vào bên tai.
Rằng: tri âm chẳng mấy ai,
Xưa nay cũng chửa có hai .
Bậc xuyên hoa điệp ,
Chẳng cô Nguyệt lão, cũng dì non Vu.
Trần hoàn ai dễ thế ru,
1300. Ghẹo lòng du tử, quấy sầu tao nhân.
Cầm não ruột, khúc thanh tân,
.
Cách chừng khôn lẽ hỏi han,
Dễ toan với nguyệt, khôn bàn với hoa.
Thưởng xuân hoạ lại một ca,
Kim phong thổi lọt, song sa đưa vào:
Trăng soi vằng vặc vóc non mờ,
Oanh nói u ơ,
Yến nói u ơ.
1310. Trời in một sắc nước xanh lờ,
Lan thoảng hương đưa,
Cúc thoảng hương đưa.
Cánh buồm chở nguyệt gió lay sơ,
Lốm đốm sao thưa,
Phấp phới sương thưa.
Chinh nhân thổi địch lắng ơ hờ,
Thiều nhạc không xa,
Hoan hội không xa.
Không xa hoan hội mấy trùng,
1320. ai chẳng não nùng .
Đoàn sĩ tử nhởn nhơ dưới nguyệt,
Khúc thanh du nhạc thét châu cung.
Kìa đâu cắt gấm, thêu hồng,
Đem thiều quang lại về vùng .
Chẳng lo mượn Đông hoàng sắm sửa,
Mà thu quang cũng lứa xuân dung.
Ngạt ngào hãy trận hương phong,
Đưa Ngưu Nữ lại sang sông Ngân hà.
Nàng nghe mấy tiếng xa xa,
1330. Biết rằng đàn ấy hoà ca điệu mình.
Lời đài các, vẻ cung đình,
Như oanh hót liễu âm thanh đủ màu.
Hỏi Oanh mọi nỗi xưa sau:
“Những ai là kẻ vào hầu bấy nay?
Bỗng đâu bên mái lầu tây,
Tiếng đàn văng vẳng lạ thay hỡi mình?”
Oanh rằng: “Có kẻ tài tình,
Chúa công cho đến ngụ dinh học đường.
Nghe đồn người ở Thanh Lan,
1340. Bậc phong lưu cũng khác làn sĩ nhân.”
Nàng rằng: “Chẳng phải miền gần,
Thanh Lan đâu có thanh tân dỡn người.
Tiếng đàn nghe cũng khác vời,
Vả từ hoa ấy ra lời sơn tăng.
Con ra nép dưới bóng trăng,
Ghé dòm xem có phải chăng cho tường.”
Oanh vâng ra mái thư đường,
Lén qua liếc thấy rõ ràng chẳng sai.
Trở vào trong chốn xuân đài,
1350. Gửi rằng: “Thực kẻ có tài tri âm.
Bây giờ gặp kẻ tri cầm,
Nỡ lòng nào để bức trầm cho đang.
Cũng toan tỏ giá ngọc vàng,
Kẻo mà khách lấy tầm thường chê ta.”
Nàng rằng: “Sao nói thế mà,
Người là viễn khách, ta là .
phải giữ phép nghiêm,
Vả xưa lược ấy đã nguyền gương kia.
Lẽ đâu trăng gió hai bề,
1360. Còn non nước để nữa e phẩm bình.
Mặc ai hoa liễu, yến anh,
Đá vàng ta tạc ân tình chẳng sai.”
Kim lang từ hoạ cầm rồi,
Một mình trong chốn thư đài nghĩ toan:
Lấy ai mà được thở than,
Việc phong tình ấy dễ bàn cho ra.
Phải khi đồng xuống dâng trà,
Nhỏ to chàng mới lân la ướm tình.
Rằng: “Đây mấy chốn thư đình,
1370. Những ai là kẻ có danh bấy chầy.
Thì đồng phải ngỏ cho hay,
Hoạ là ngọc ấy vàng nầy xứng chăng?”
Hỏi thôi đồng mới thưa rằng:
“Chốn nầy công tử tài năng khác thường.
Gồm nghề cử tử tài lang,
Lại thèm lắm vẻ tiên phương đạo mầu.”
Chàng nghe đồng kể gót đầu,
Nhủ rằng: “Đồng hãy chịu dầu gởi cho.
Rằng tôi chỉn phận hàn nho,
1380. Thô sơ đâu dám sánh so anh hào.
Gọi là cũng biết phong tao,
Gởi thơ đàn ấy được vào bậc không?”
Đồng vâng vào chốn hoa phòng,
Y lời chàng nhủ gởi cùng nàng nghe.
Nàng rằng: “Khách đã thế thì,
Lại ra ướm hỏi hương khuê chốn nào.
Với nguyên do những làm sao,
Thì con phải hỏi âm hao cho tường.”
Đồng vâng ra gác hỏi chàng,
1390. Đắn đo lại cứ lời nàng chẳng sai.
Kim lang nghĩ hẳn lòng trời,
Đem nơi công tử sánh người thần tiên.
Nếu còn giấu họ giấu tên,
Đường giao sao thiết, lời nguyền sao thân.
Nhủ đồng mọi nỗi ân cần,
Rằng ơn công tử muôn phần hậu tâm.
Tri âm đã gặp tri âm,
Lẽ đâu mà lại tuyệt cầm cho đang.
quê ấy An thường,
Kính sơ đôi chiếc, Phạm Trương một nguyền.
Bỗng đâu gặp vận truân chiên,
Kẻ miền Nam hải, người miền Từ sơn.
Ngậm ngùi khôn lẽ thở than,
Nói ra trạnh tưởng kim lan nghĩa nhà.
Bây giờ Nam, Bắc thất gia,
Cho nên mới dám tỏ ra chân tình.
Đồng vâng về gởi ,
Nàng nghe thấy nói dường hình chiêm bao.
Ngẩn thay sự lạ lùng sao!
1410. Trời xanh còn tựa má đào vậy vay.
Sai đồng vào chốn lầu tây,
Mượn chàng kim kính về rầy sánh xem.
So châu sơ lại như in,
Tức thì về chốn thư hiên gởi trình.
Rằng: “Con đâu dám sỗ sàng,
Vì nghe đàn ấy biết chàng tính danh.
Vậy đưa sơ, kính lên trình,
Nhân duyên vâng đức điều đình dám sai.”
Trương công thấy sự nực cười,
1420. Chẳng lòng trời, dễ sức người được đâu.
Truyền đòi Phạm tử lên hầu,
Trương bàn mọi nỗi kim châu nghĩa nhà.
Kim lang đến trước thưa qua:
“Hồ tôi thô lậu, trộm đà khoan dung.
Lẽ đâu dám kẻ ,
xin đợi xứng tài.”
Trương công rằng: “Bởi duyên trời,
Một lời vàng đá, muôn đời nước non.
Dẫu rằng nước cạn núi mòn,
1430. Đá còn chẳng nát, vàng còn chẳng phai.
Nhưng con hãy bấm chí trai,
E vui tuyết nguyệt, nửa nguôi thư cầm.
Xem hoa sớm nẩy hoè âm,
Kính sơ nầy cũng vừa tầm tân trang.”
Chàng tuy vâng mệnh cao đường,
Nghĩ tình Quỳnh ngọc chưa dường nào nguôi.
Nhưng thì phụ mệnh dám sai,
Một lời giao ước, trọn đời hôn nhân.
Nếu mà trọng nghĩa tư thân,
1440. Vi xuân luỵ giá thanh xuân thế cười.
Song ân tình hãy chưa nguôi,
Tủi người nhất tử, bẽ người .
Lời nguyền còn đó rành rành,
Bây giờ mà lại đinh ninh chốn nào.
Hai đường lui tới biết sao,
Âu là mình hãy chăm điều .
Nào hay vận bĩ chưa thông,
Dẫu thánh hiền cũng lánh tuồng tinh ma.
Trời còn kẻ tài hoa,
1450. Để già tuế nguyệt, cho già tài danh.
Quan trâm đôi lứa trưởng thành,
Việc hôn nhân phải sắm sanh lệ thường.
Trương hoàng lục lễ sẵn sàng,
Kén người mời khách, sửa đường quan tân.
Sánh duyên mở tiệc ,
Trăng thu rũ bạch, hoa xuân quyến hồng.
Mai điểm tuyết, liễu nghênh phong,
Thềm lan nức tiếng, dặm tùng đưa hương.
Đôi bên diệm nữ, kỳ lang,
1460. Tài cao mệnh thế, sắc ngang khuynh thành.
Kính sơ so nhắc cũng bằng,
Thợ trời cân nghĩa, khuôn tình rất công.
Chàng tuy duyên đẹp loan phòng,
Nhưng tình Quỳnh ngọc trong lòng chưa yên.
Nhân khi nhàn hạ thở than,
Giở kim hoàn ngắm, giọt tràn đôi châu.
Thuỵ nương bèn gạn gót đầu,
Chàng bèn kể hết trước sau ân tình.
Nàng nghe nói đến chữ Quỳnh,
1470. Nghĩ tiền duyên hẳn là mình chẳng sai.
Ngửa tay xem dấu tỏ mười,
Vậy hay sinh hoá cơ trời lạ thay!
Chàng rằng: “Một mối duyên nầy,
Khen cho Nguyệt lão xe dây tơ hồng.”
Mấy thu hương lửa loan phòng,
Điềm thiêng sớm ứng mấy phen.
Nhạn, Oanh cũng hợp nhân duyên,
Nét thêu sơ kính, dấu in thư cầm.
Cho hay hai chữ tình thâm,
1480. Gầy chừng đỉnh Bắc, cạn tầm bề Nam.
Vậy nên hứng bút chép làm,
Nghìn thu thích nghĩa kim lan hai nhà.
Năm nay ,
1484. Chạnh niềm tưởng đến đặt hoà ngâm chơi.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.