秋思其二

翠竹遶篱溪壑幽,
北窗獨坐對清秋。
狂吟何必千人誦,
縱飲難消萬古愁。
平野地寬先得月,
寒汀水淺不通舟。
迷途暗恨歸來晚,
一度江山一白頭。

 

Thu tứ kỳ 2

Thuý trúc nhiễu ly khê hác u,
Bắc song độc toạ đối thanh thu.
Cuồng ngâm hà tất thiên nhân tụng,
Túng ẩm nan tiêu vạn cổ sầu.
Bình dã địa khoan tiên đắc nguyệt,
Hàn đinh thuỷ thiển bất thông châu.
Mê đồ ám hận quy lai vãn,
Nhất độ giang sơn nhất bạch đầu.

 

Dịch nghĩa

Tre xanh quanh giậu, khe ngòi êm tĩnh
Trước cửa sổ hướng bắc một mình ngồi ngắm thu trong
Thơ ngâm phiếm, không cứ gì phải hàng nghìn người đọc
Rượu uống tràn vẫn khó tan được mối sầu muôn thuở
Bãi bằng đất rộng được ngắm trăng sớm hơn
Bến lạnh nước nông thuyền không qua được
Đã trót lầm đường vẫn ân hận rằng quay về muộn quá
Cứ mỗi phen trải qua cảnh sông núi, lại một phen bạc đầu thêm


Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Tre xanh êm tĩnh rãnh ngòi
Ngắm thu cửa bắc ta ngồi giờ lâu
Thơ nghìn người đọc cần đâu
Rượu tràn cũng khó tan sầu nghìn năm
Bãi bằng sớm được ngắm trăng
Nước nông bến lạnh thuyền sang được nào
Lầm đường hận ở quá lâu
Một phen sông núi bạc đầu một phen

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Quanh giậu tre xanh, êm suối ngòi,
Trước song thu bắc một mình ngồi.
Cứ gì tụ tập thơ ngâm phiếm,
Rượu uống tràn đầy sầu khó vơi.
Đất rộng bãi bằng trăng ngắm sớm,
Nước nông bến lạnh thuyền không bơi.
Lầm đường ân hận quay về muộn,
Trải cảnh núi sông đầu bạc rồi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời