Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Nguyễn Bính
Gửi Văn Viễn
Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với người buồn vậy thay
Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may
Người giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trí thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây
Nợ thế chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy
Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hãy hay
Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ?
Cốt nhất cười vui trọn tối nay
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây
Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây
Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã đẩy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bến ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi...
Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2]
Gửi bởi tienpv ngày 12/06/2010 02:28
Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Gửi bởi Phụng vũ cửu thiên ngày 21/05/2012 05:24
Đã sửa 1 lần,
lần cuối bởi Phụng vũ cửu thiên
vào 09/07/2013 16:57
Có 1 người thích
Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?
Trước khi lên đường Kinh Kha được Thái tử Yên Đan hậu đãi, có một cô thị nữ mang khay trà vào, Kinh Kha khen hai bàn tay của cô đẹp quá. Thái tử Đan nghe báo cáo như vậy thì nói với cô thị nữ: cô tặng cho tráng sĩ hai bàn tay đi. Rồi sai chặt hai bàn tay cô thị nữ để trên khay rồi mang vào tặng cho Kinh Kha. Thái Tử đã hy sinh một mạng người để nung nấu chí hướng của người tráng sĩ. (theo Thích Nhất Hạnh http://langmai.org/phapdu...uyen-binh-hanh-phuong-nam ).
Gửi bởi Lê Cảnh ngày 07/04/2023 13:54
- "Trí thân" là đúng, có nghĩa là "đặt mình vào" một hoàn cảnh nào đó. Tìm hiểu và đối chiếu thêm với câu "Trí chủ hữu hoài phù địa trục".
- "Nợ thế trả chưa tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay"
- Trước 1945 viết:
"Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ
Cốt nhất cười vui trọn tối nay"
Sau 1945 sửa lại thành:
"Ngày mai xán lạn màu non nước
Cốt nhất làm sao tự buổi nay"
Gửi bởi Budō wéi Osu ngày 28/05/2025 20:35
Bài thơ “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính, gửi cho Văn Viễn, là một bức tranh đầy tâm trạng về sự lưu lạc, bất lực và nỗi buồn của những người trí thức trong thời cuộc loạn lạc. Bài thơ mang đậm phong cách thơ lãng mạn của Nguyễn Bính với những vần thơ tài hoa, sử dụng nhiều điển tích, điển cố, thể hiện một tâm hồn phức tạp và đầy bi kịch.
I, Nỗi buồn lưu lạc và bất lực:
- Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bính đã đặt ra một không gian đầy khắc khoải: “Đôi ta lưu lạc phương Nam này”. Nỗi buồn không chỉ là của riêng tác giả mà còn là của những người cùng cảnh ngộ, những người tha hương lạc bước giữa dòng đời. Mùa xuân đến, vạn vật tươi mới, nhưng con người lại đối diện với sự tàn phai, hụt hẫng: “Xuân đến khắp trời hoa rượu nở / Mà ta với người buồn vậy thay”. Nỗi buồn này không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà còn là nỗi buồn của cả một thế hệ, những người đã mất đi phương hướng, lý tưởng giữa thời cuộc hỗn loạn.
- Sự bất lực được thể hiện rõ nét qua hình ảnh rượu: “Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu / Mà không uống cạn mà không say”. Rượu không thể xoa dịu được nỗi đau, không thể làm người ta quên đi thực tại phũ phàng. Điều đó cho thấy sự bế tắc cùng cực trong tâm hồn thi nhân.
II, Khát vọng lớn bị kìm hãm và nỗi đau thời thế:
- Nguyễn Bính nhắc đến “Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã” và “áo khinh cừu không ai may”. Điển tích Tư Mã Tương Như và Trác Văn Quân gợi lên một khát vọng về tình yêu, về sự tự do, thoát ly khỏi những ràng buộc. Tuy nhiên, khát vọng ấy đã không thành, hoặc không tìm được mảnh đất để dung thân. Câu thơ “Người giam chí lớn vòng cơm áo / Ta trí thân vào nợ nước mây” đã lột tả một cách chân thực bi kịch của những người trí thức lúc bấy giờ. Một người bị kìm hãm bởi gánh nặng mưu sinh, người kia thì bị cuốn vào những nghĩa vụ vô định, không thể làm chủ cuộc đời mình.
- Nỗi đau thế sự còn được thể hiện qua câu: “Nợ thế chưa trả tròn một món / Sòng đời thua đến trắng hai tay”. Đây là một lời than thở cay đắng về sự bất lực trước số phận, trước những biến động của xã hội. Quê nhà xa lắc, tâm giao ly tán, tất cả đều góp phần tạo nên một nỗi buồn sâu sắc, chất chứa.
III, Sự nổi loạn và thách thức số phận:
- Dù chìm đắm trong nỗi buồn, Nguyễn Bính vẫn giữ một thái độ ngang tàng, bất cần: “Người ơi buồn lắm mà không khóc / Mà vẫn cười qua chén rượu đầy”. Nụ cười này không phải là sự vui vẻ mà là một nụ cười chua chát, bất lực trước hiện thực. Thậm chí, ông còn dám “tiêu hoang cho đến hết / Ngày mai ra sao rồi hãy hay” như một sự thách thức, bất chấp số phận.
- Sự nổi loạn của Nguyễn Bính còn được đẩy lên cao trào khi ông nhắc đến những điển tích bi tráng như Nhiếp Chính băm mặt hay Kinh Kha sầu nghiêng chén. Những hình ảnh này không chỉ thể hiện sự ngưỡng mộ đối với những người anh hùng dám hy sinh vì lý tưởng mà còn là lời tự vấn về bản thân, về ý chí hành động giữa thời buổi loạn lạc. Ông khao khát một sự dứt bỏ, một sự ra đi dù không biết về đâu: “Giày cỏ gươm cùn ta đi đây / Ta đi nhưng biết về đâu chứ?”.
IV, Tiếng cười bi tráng giữa chợ đời:
- Đến cuối bài thơ, Nguyễn Bính chọn một thái độ đối diện trực tiếp với thế giới: “Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ / Uống say mà gọi thế nhân ơi!”. “Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ” là một lời miệt thị, khinh bạc đối với những kẻ vô cảm, bạc bẽo. Tiếng cười của thi nhân, dù là “cả tiếng cười” hay “cười vui trọn tối nay”, đều mang đậm tính bi tráng. Đó là tiếng cười của sự bất cần, của sự bất lực nhưng vẫn ngẩng cao đầu thách thức, không chịu khuất phục.
- Đoạn cuối với điệp khúc “Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!” như một tiếng gọi day dứt, một lời đồng cảm sâu sắc với những người cùng cảnh ngộ. Tiếng “lạnh mấy mươi” khi về lại không chỉ là cái lạnh của đêm mà còn là cái lạnh trong tâm hồn, cái lạnh của sự cô độc và vô định.
V, Giá trị nghệ thuật và cảm nhận cá nhân:
- Bài thơ “Hành phương Nam” thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính với việc sử dụng ngôn ngữ bình dị nhưng sâu sắc, giàu hình ảnh và cảm xúc. Các điển tích, điển cố được lồng ghép một cách tài tình, tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Giọng thơ lúc trầm lắng, lúc bất cần, lúc bi tráng, thể hiện một tâm hồn phức tạp và đầy mâu thuẫn.
- Đối với cá nhân tôi, bài thơ là một tiếng lòng đầy chân thực về thân phận con người trong thời loạn. Nó không chỉ là nỗi buồn của riêng Nguyễn Bính mà còn là nỗi buồn chung của một thế hệ. Dù mang một vẻ bi quan, nhưng bài thơ vẫn toát lên một tinh thần bất khuất, một sự ngang tàng dám đối diện với thực tại, điều này làm cho “Hành phương Nam” trở thành một tác phẩm có giá trị vượt thời gian.
Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2]
Bình luận nhanh 3
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.