Đăng bởi Lê Tuân vào Hôm kia 14:21
Thực ra, hầu như chúng ta nhận ra con người tinh thần của chính mình và cả chân dung tinh thần của những người thân yêu bên mình không được bao nhiêu phần trăm... (TRẦN MẠNH HẢO)
Năm 2017, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tập thơ Nghi lễ của ánh sáng của tác giả Lê Tuân. Tôi nhận được tập thơ này qua bưu điện, với mấy dòng thư của một người có tên là Trần Thi Tứ như sau: “Em xin gửi cho bác tập thơ này, là một tập thơ dở mà lại được giải thưởng của “Hội Nhà văn”, nhờ bác đọc cho ý kiến. Em biết bác là nhà phê bình thơ uy tín… Vậy xin bác rủ lòng thương lớp trẻ chúng em mà viết bài phê phán tập thơ dở nhất nước là tập Nghi lễ của ánh sáng của ông Lê Tuân này. Xin cám ơn bác!”
Đọc lá thư tố thơ dở, xui mình viết bài “oánh”, tôi quả bực mình. Xưa nay, có ông bà nào cả gan xui tôi như vậy đâu. Vả, luật pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có cấm thơ dở bao giờ…
Tuy vậy, để cho cơn bực mình hạ hoả, tôi liền mở Nghi lễ của ánh sáng của thi sĩ Lê Tuân ra đọc. Mới đọc bài thứ nhất - Chỗ khuất, đã xúc động vì câu chữ thi ca:
một vì vua
một tôi bộc
cùng ẩn nấp một nơi sao chưa nhận ra nhau
một chỗ khuất
một vết thương
mang mũi tên đi đâu mà đầu đường cuối nẻo
chiếc xe song mã
một con ngựa kéo
mảng trời xiêu vẹo chưa thấy ai thay
lửa cháy muôn nơi
ngựa hí vang trời
ai tìm ai mà ngàn bể với non khơi
Bài thơ như một bức tranh siêu thực của tâm trạng. Tưởng như các câu thơ là cơm nguội rã rời. Nhưng chúng, những câu thơ, lại được dính nhau như kẹo kéo, xâu chuỗi trong mạch ngầm thi tứ theo truyền thống rất Á Đông: “thi tại ngôn ngoại”. Thơ mà nói toẹt ra là thơ hỏng. Nghệ thuật thi ca là nghệ thuật của khơi gợi, hàm súc, dư ba, ám ảnh trong trường liên tưởng tâm hồn. Tôi yêu mang mũi tên đi đâu mà đầu đường cuối hẻm, hay mảng trời xiêu vẹo chưa thấy ai thay…, yêu góc khuất tâm hồn thi sĩ Lê Tuân khơi gợi cho hồn tôi một điều gì xa thẳm chưa gọi được tên.
Thực ra, hầu như chúng ta nhận ra con người tinh thần của chính mình và cả chân dung tinh thần của những người thân yêu bên mình không được bao nhiêu phần trăm. Tất cả với chúng ta hầu như còn ở những góc khuất. Phật giáo gọi là tính không!
Nếu có thể đặt tên lại cho tập thơ này, tôi sẽ đặt là “Chỗ khuất”. Phải chăng mỗi chúng ta đều trọ trong một góc khuất của riêng mình và góc khuất của kẻ khác? Sở dĩ trái đất tròn là để cho mỗi người, mỗi dân tộc có một góc khuất để ẩn nấp, để chơi trò trốn tìm có tên là cuộc sống.
Viết kiểu thơ không vần, có vẻ ông chẳng bà chuộc như kiểu bài Chỗ khuất này của Lê Tuân (có người lạm dụng từ ngữ gọi nó là thơ siêu thực) để người đọc cảm nhận và rung động được là điều cực khó.
Trước nhà thơ Trần Mai Ninh (1917 - 1947), rất nhiều người đã thử nghiệm làm thứ thơ tự do không vần, kể cả Nguyễn Đình Thi, nhưng loài thơ này chưa thành công, vì không có bài hay. Có thể nói, Nhớ máu và Gió Tuy Hoà là hai bài thơ tự do không vần rất hay của thi sĩ - liệt sĩ Trần Mai Ninh, đã đặt dấu mốc cho thể thơ tự do không vần này ở Việt Nam.
Xin ăn ké “cái tôi đáng ghét” của mình vào đây một tí. Tôi từ 40 năm trước đã viết hàng trăm bài thơ tự do không vần in báo, nhưng chúng đều chết yểu. May thay, có một vài bài còn có thể tồn tại, ví như bài thơ Hà Nội rét dưới đây:
tôi bỏ tôi vào áo choàng đêm
đèn đường co ro ấm
nhát cọ sơn dầu gió bấc
quét ngang phố Phái mùa đông
Hà Nội trong túi áo sông Hồng
một củ lạc rang bỏng rét
góc phố riu riu hò hẹn
ngọn lửa vừa đi vừa tắt
khuya ngọt và thơm
tay em rưng rức mưa phùn
ai cũng nhớ khói
Hà Nội nồng nàn run
em độc thân lá bàng
cháy đỏ mặt đường
đêm hết lòng củi lửa
rét bạc cả sương
tôi cho tôi vào hộp diêm Hà Nội...
Trở lại với tập thơ Lê Tuân. Xin dẫn bài thơ Trong nhà hay ngoài ngõ:
mưa
cánh hoa rơi
trong nhà hay ngoài ngõ
buồn
như biển rộng
bao giờ cánh cổng nhận ra tôi
nến
chẳng tự sáng
có cần không một bàn tay mớm lửa
trăng
bên kia núi
bên này chưa thấy đời vui
khuya
không còn ai
người hành khất gì mà ngồi lại mãi
Thơ cốt gợi không khí bất chợt, thảng thốt, thăm thẳm, hụt hẫng của một tâm trạng bất an, của một con người u hoài tưởng như ấm ớ, ngớ ngẩn. Tôi yêu câu thơ rất tài năng của bài này: bao giờ cánh cổng nhận ra tôi…
Tất cả các cánh cổng của đời hay cánh cổng của chính nhà mình đều “không nhận ra tôi”; tôi xa lạ với chính cánh cổng nhà mình. Phải chăng cánh cổng hồn tôi đã khép, không mở cho tôi vào chính lòng mình? Thơ Lê Tuân buồn lắm.
Cánh cổng nhà anh cũng buồn lắm, cô đơn lắm. Một thế giới vô hồn giăng mắc các bài thơ đãng trí của một chàng Hamlet ngẩn ngơ trong một thế giới ngơ ngẩn: “Tồn tại hay không tồn tại?”
Thơ Lê Tuân chỉ gợi, chỉ he hé một tí tẹo thôi, nhưng là một tí tẹo ám ảnh, một tí tẹo ma mị vô ngôn, như khi anh “nến hoá thi ca” nơi câu thơ rất tài trong bài trên: có cần không một bàn tay mớm lửa. Hoá ra trong mắt Lê Tuân, ngọn nến còn sơ sinh đòi bú mớm, còn cần “mớm lửa”.
Thi sĩ, về bản chất, cũng là một kẻ “mớm lửa” cho đời. Anh chỉ “mớm lửa” chữ nghĩa chứ đừng đốt lửa như đốt nhà, khiến các câu chữ vốn rón rén, rụt rè, se sẽ phải bỏ trang giấy như khói tháo chạy khỏi mái nhà thi tứ.
Kết thúc bài thơ, còn sót lại trước cửa nhà trang giấy một người hành khất ngồi mãi không chịu đi. Ông đến ăn mày thi ca hay ăn mày lòng nhân ái? Người hành khất kia vẫn ngồi đợi trước cửa lòng ta ngay cả khi khuya khoắt. Vâng, Phật và Chúa sinh thời đều là những người hành khất ăn mày của bố thí. Nhà thơ có gì bố thí cho Phật, cho Chúa ngoài niềm bơ vơ kiếp người?
Thơ Lê Tuân mang hơi hám ba vị: Rabindranath Tagore Ấn Độ (1861 - 1941), Kahlil Gibran Liban (1883 - 1931) và Bùi Giáng Việt Nam (1926 - 1998). Nỗi khắc khoải về Thượng đế, về cái vô hạn, cái chết, tình yêu và nỗi cô đơn ám ảnh các bài thơ Lê Tuân.
Ta tìm thấy hơi thơ Bùi Giáng nơi lục bát phóng thể Lê Tuân trong bài Thênh thang rất hay:
đò nào chở nổi thênh thang
thiên hương
dạ mị
cuốn ngàn năm bay
người qua đây
nhé
đừng lay
ta đang thần thoại bên cây phong trần
hội tan chưa nhỉ
phù vân
ngồi thêm một chút tình nhân rồi về
Nhà thơ nói về nhưng nào biết về đâu. Lục bát rớm hay mà trời mây rớm lệ, khiến lòng ta cũng rơm rớm nỗi niềm. Thơ Lê Tuân có gì không? Không! Vậy mà đọc xong thấy có. Có gì? Có cái không thể vui, không thể ngủ, không thể còn như cũ nữa, không thể viết như cũ nữa, không thể cụ thể được nữa, phải mơ hồ thôi, phải xa vắng thôi, phải trống không thôi…
Trần Mạnh Hảo bèn tát nước theo mưa, học theo Lê Tuân ngẫu hứng than rằng:
trống không ơi hỡi trống không
cho tôi xin chút mênh mông
làm quà
Xin dẫn thêm một lục bát phóng thể Lê Tuân tuyệt hay có tên là Oan khiên:
thôi
đừng buồn nhé
oan khiên
cây
trăm năm
chẳng thiên nhiên nữa là
đuổi ánh sáng ra khỏi nhà
đuổi nhau ra khỏi thiên hà
được không
đêm qua
sông chảy vào sông
tôi lơ ngơ chảy vào không có gì
Giá bài thơ chỉ dừng lại ở đây thì tuyệt quá. Nhưng Lê Tuân còn tham, anh lại hạ một lục bát nữa:
nửa xanh giờ đã ra đi
nữa tôi hái nhánh li bì tặng em
Bạn ơi, khi câu thơ đạt đến chỗ tuyệt bút thì dừng lại ngay, không viết thêm nữa, viết nữa sẽ nhạt. Điều này tôi cũng để khuyên tôi.
Chao ôi, con sông thơ Lê Tuân biết tìm biển không có gì mà đổ vào trang giấy: tôi lơ ngơ chảy vào không có gì… Hoá ra cái đích đến của thi ca cũng là đích đến của nhà Phật: trở về tính không!
Bài thơ Đường về dưới đây của Lê Tuân cớ sao cứ ám tôi mãi, hình như có hơi của K.Gibran, hay là đường về tính không của Phật. Thơ để hiểu là thơ chưa đích thực. Thơ như tình yêu để cảm rồi mới nhận được mơ hồ, nhận được bâng khuâng, ma ám:
lập đền đài nơi hoang vắng
thờ phụng người
sau đó mang về nhà rồi mang đi đâu nữa
hằng mong được gặp
để làm gì
cầu xin ư
nếu đã hết lòng bằng ngôn từ rất riêng
mà chưa toại nguyện
thì cầu xin ai nữa
đường về
là đường nào
chẳng phải là đường đang đi đây sao
Thơ, rút cục, không có đường về ư? Về tim a? Về cõi ngất ngư a? Phật bảo ta: Không cần đến đích. Mà thực ra đích là rỗng không, là vô cực, là hun hút. Đích của Niết bàn hay thi ca là con đường đang đi đó bạn ơi! Chao ôi, cõi không, tính không kia mới quý hoá thực tại làm sao! Cứ tưởng chiêm bao lại hoá ra là cõi thực. Một thứ thơ vừa viết vừa nằm mơ như Lê Tuân mà đi tìm ý nghĩa anh nói gì đấy, thì thơ ơi, ta chào mi, vì mi dung tục quá. A ha, thực tại mới chính là giấc mơ của thi ca, của tính không: càng tìm càng không thấy. Đừng tìm. Hãy cảm.
Xin dẫn tiếp bài thơ Còn có điều gì muốn thấy của Lê Tuân:
đất
bay lên khỏi mặt nước
chỉ làm loang mơ ước tới tận bờ
hay còn điều gì muốn thấy
trời
lao mình xuống nước
chỉ hít thở tình yêu
hay còn điều gì muốn thấy
người
vẫn chưa nhớ ra
đã bay lên, lao xuống đến bao lần
và còn điều gì muốn thấy
Hình như tất cả mọi cái trên đời con người muốn thấy đều không thấy. Hình như không tìm có khi mới thấy. Cho nên Kinh thánh bảo: Phúc cho những kẻ chẳng xem thấy mà có lòng tin. Thơ hình như cũng thế, đằng sau câu chữ, đằng sau trang giấy có cái mù mờ mới là thơ. Nhà thơ chẳng qua chỉ là cái cớ gọi thơ trong hồn ta xuất hiện mà thôi. Bài thơ trên hình như chỉ là sự gợi mở ta về trò chơi bịt mắt bắt dê của cái hữu hạn đi tìm cái vô cùng.
Trần Mạnh Hảo bèn ngẫu hứng theo thơ Lê Tuân mà lục một bát thơ vui:
tìm em hữu hạn lục tung
xem em giấu cái vô cùng ở đâu
Cuối tập thơ của Lê Tuân, bài Để bên kia trời, chừng như thi sĩ vẫn hẹn ta rằng có cái vô cùng đấy, hãy tin vào thi ca, trèo qua “bên kia trời” sẽ thấy tất cả cái ta muốn tìm:
người đã đến
khi em còn chưa đến
và đã đi
khi trăng nhỏ vừa lên
vẫn còn một ít không tên
và còn nhiều nữa để bên kia trời.
“Ở bên kia trời” là ở đâu? Chịu! Khổng Tử bảo: Ngoài trời còn có trời. Hình như “bên kia trời” là Thượng đế, là thi ca, là sự bất tử của linh hồn mà loài người hi vọng?
Lê Tuân là một nhà “khêu gợi học”, cho người đọc đôi mắt trẻ thơ để tò mò, thóc mách, để suy tưởng và xúc cảm. Thơ anh chẳng có gì mà như có tất cả. Nhà thơ như đã chạm đến cái không của đời hay là cái không đáy, không chiều, không hiểu nổi của thời gian, không gian thơ.
Đã khuya lắm. Tôi còn thức với thơ Lê Tuân và viết mấy dòng về thơ anh, chợt gặp câu thơ trong bài Trễ nải đời nhau của anh:
đã gần hết đêm hồng
sao chưa tới mênh mông
Chúng ta, loài thi sĩ nhỏ bé, sao ưa sưu tầm cái mênh mông đến thế? Tìm thấy cái mênh mông rồi thì sao? Thì tan biến như bọt biển. Xin trả món nộm mênh mông cho hư vô, lắng nghe thi sĩ cầu xin bằng một câu thơ rất hay: xin muôn nơi luôn về tới nhà mình.
Cái mênh mông chừng như chính là cái muôn nơi đó chăng? Hoá ra, muôn nơi, hay mênh mông, cũng có mái nhà để về sao?
Cuối bài thơ Hàn Mặc Tử của mình, tôi đã viết:
nhà thơ vốc khoảng không
như vốc cát
ném lên mình cho trăng sáng
vùi chôn
thơ có biến trăng suông thành cháo loãng
để nuôi cơn chết đói linh hồn
Hi vọng, tôi sẽ còn tìm thấy giữa mênh mông thơ dở trên đời này một tập thơ khác hay như tập Nghi lễ của ánh sáng của Lê Tuân, để tâm hồn tôi không còn có cơ bị chết đói...
T.M.H.
Đăng bởi Lê Tuân vào Hôm kia 14:32
Gương mặt con chữ trong thơ Lê Tuân là những người lạ kẻ quen từng/ hằng quen biết… Thế giới đó thấp thoáng ẩn hiện, đến và đi, khó tỏ bày, xúc chạm. Dẫu tâm hồn và ruột gan có trống trải, tò mò lắng nghe từng phút, một cách đớn đau những mệnh lệnh bật âm thì thầm thấm lặng, thì cũng chỉ là sự “bỏ ngỏ” bằng những câu hỏi “rỗng tuyếch”: “Nàng đẹp như tôn giáo, thấp thoáng bên đường biên mờ ảo, tôi, cây mọc rừng hoang, xanh rêu triền đá, lạc vào hội hoá trang hoang dã” (Buồn). “Nàng bảo/ gã là tôi/ triết học bảo/ tôi là tù nhân của gã”.
Tiếng thơ “thai nghén” từ cuộc “liên phối” giữa tình yêu và triết học. Tình yêu và triết học là hệ/ nhân/ hậu quả của nhau. Và đều sinh nở - khai mở trong “lửa thề nguyền”. Sau cuộc vui chung chén - cơn lửa nồng dục vọng là lối mòn dã từ, vĩnh ly trùng biệt. Khi không có trong nhau nụ hôn trần thế thì nảy sinh “đói khát hận thù” (Lửa đói khát giày vò). Và cuối cùng, trên vĩnh hằng của sự im lặng bốc cao cùng ngọn “hoả táng”: “Rồi ngàn năm sau/ ở phía xuôi nguồn/ cũng buồn như thế” (Rồi người bơ vơ).
Tiếng thơ Lê Tuân là tiếng lòng lang thang như cỏ bụi trần gian đã dặm dài sương gió. Giờ quay trở, lật về những cảm tưởng cội nguồn. Để tìm căn nguyên, để hiểu sự sống, để gì, có ích chi? Và để rồi “vô vọng” trong câu trả lời “trang trọng” nhất: “Đừng hỏi những vết thương/ em chỉ là khách đường xa muôn hướng”. Đúng vậy, “Ở rất gần hơi thở/ ước mơ/ phải chết đi để sống”. Ở giữa đời thường biến ảo, tập giết “ngôn ngữ” để khởi sinh mình trong tĩnh tại im lặng siêu nhiệm: “Thắng để làm gì/ khi ham muốn cao cả nhất/ giờ cũng không còn thật/ đã cháy rụi cả rồi” (Thắng để làm gì).
“Đạo khả đạo, phi thường đạo”, “Danh khả danh, phi thường danh”, “Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn” (Lão Tử) và Heraclite: “Kẻ im lặng bao giờ cũng đẹp”. Có phải thế mà, cả quá trình trò chuyện với Lê Tuân, anh khá “khiêm kiệm”. Chẳng chia sẻ gì nhiều bằng “ngôn lời”, chỉ trao đổi bằng sự rỗng lặng. Điều này khiến tôi có “thiện cảm” hơn với chữ nghĩa và chữ nghĩa riêng anh. Nghi lễ của ánh sáng là một tiếng nói “khôn ngoan” bởi nó chọn vị trí, điểm nhìn khá kiên nhẫn và cao cả khi nhìn cuộc đời. Không hô hét, hằn học, không đả kích, bông lơn, không khổ hãi hận sầu. Dường như đối diện tất cả và tha thứ tất cả: “Gái/ trai/ thần linh/ dân dã/ tất cả đều ôm hôn hai chúng tôi/ họ bảo/ trái đất hình vô tội” (Trái đất hình vô tội).
Ta thấy hư vô đằng sau tất cả những lý tưởng của con người: “Bóng tối là trò chơi/ nơi đâu cũng có/ người thấy tôi. Tôi chẳng thấy người/ cô đơn là trò chơi/ nơi đâu cũng có/ con ốc mượn hồn. Tôi mượn môi hôn” (Nơi đâu cũng có). Tiếng thơ có lời “khải huyền” với nhiều hình tượng mang tính tiên cảm, mang màu thần bí, mang trí tưởng tượng của cõi hư linh, tận chiều sâu bi cảm về số phận, về hành trình kiếp sống… Tất cả được phô mạch giãi bày thông qua những “nghi vấn”, những câu hỏi chẳng thể đáp tận: “Trong thế giới quỷ dữ/ cái ác và điều thiện/ từ xưa hay chỉ mới hôm nay?/ chết và sống là một hay hai?/ tôi đang ở với ai hay chỉ là tồn tại/ từ xưa hay chỉ mới hôm nay?” (Từ xưa hay chỉ mới hôm nay).
Sự “than van” trong thơ không tạo nên những tiếng cười “khoái trá cuồng ngạo”, cũng không phải nỗi “đắm chìm say sưa”. Nhưng có sự quyến rũ của một hàm lượng sự “trả thù nhỏ nhoi”, để đối kháng thiện/ác và nhận thức về gương mặt trời xảo trá vô luân: “Trăng bên kia núi/ bên này chưa thấy đời vui/ khuya/ không còn ai/ người hành khất gì mà ngồi đợi mãi” (Trong nhà hay ngoài ngõ). Tác giả nhắc đến thế giới bên kia, nhưng có phải “thế giới bên kia để làm gì nếu không phải là sự tồn tại với mục đích bôi nhọ thanh danh của thế giới bên này”. Cho nên chẳng bất ngờ khi “chuông đổ liên hồi/ sáng/ tối/ điều này đã có tên gọi lâu rồi”. Chính vì vậy, sống vẫn “thiết tha” khi tất cả đều có nghĩa và cũng thật vô nghĩa. Anh chỉ niệm một tín điều: “Thản nhiên ơi/ đừng chết/ mốt mai/ còn dặm dài đuối gió” (Thản nhiên).
Điểm nhìn của Lê Tuân, riêng trong Nghi lễ của ánh sáng hoặc cho cả một đời thơ, đời người, đều như thế: “Luôn luôn hi vọng nhưng sẵn lòng trông đón điều xấu nhất xảy đến”. Rồi khi đối diện với mặt trái của sự thật, của lương thiện, của ánh sáng, như khi “hiệp khách buồn đặt thanh kiếm xuống/ vẫy chào quán trọ/ bình thản bước đi như bao người trước đó” (Hiệp khách). Lê Tuân không say sưa, nghiện ngập thiên đàng hay trần thế; anh chấp nhận sự có mặt, sự tồn tại của nó. Để “dưới chân người bất tử/ ngày gió/ đêm hương/ yêu thương bằng ngôn ngữ nào cũng được”. Lê Tuân chọn sự “im lặng bất tận”, nơi đó anh kiếm tìm “trên bàn thờ nhân gian chỉ yêu thương còn sót lại” (Một nơi hiu quạnh).
Một kết thúc mở ra trong thế giới nội tâm vừa huyễn tưởng vừa hiện thực. Nơi ấy, thơ không còn là trò chơi của ngôn ngữ, mà là một nghi lễ của linh hồn - con người soi chiếu chính mình trong ánh sáng và bóng tối, trong yêu thương và cô độc, trong niềm tin và sự hồ nghi vĩ đại. Ở đó, sự im lặng không phải là kết thúc, mà là hình thức cao nhất của đối thoại, khi con người đối diện với hư vô, với Thượng đế, với chính cái bóng của mình: “Vó ngựa/ non hồng/ đâu chỉ dành riêng cho người mơ mộng” (Say khướt thiên đàng).
Thơ anh mở ra không gian của thấu triệt và buông xả, như thể người viết đã đi qua đủ những khổ đau, khao khát, phản kháng để đến với sự an trú của kẻ đã hiểu. “Trên bàn thờ nhân gian chỉ yêu thương còn sót lại” – câu thơ ấy không chỉ là tiếng vọng cuối của một niềm tin, mà còn là tuyên ngôn đạo lý giản dị nhất của người làm thơ. Giữa thế giới mòn rỗng và đầy ngờ vực, Lê Tuân vẫn giữ được cho thơ một hạt nhân nhân tính, một nụ sáng mong manh của lòng thiện, thứ ánh sáng “mảnh khảnh” nhưng không bao giờ im tắt.
Đó không phải là lời nói tiếng ca của kẻ bi quan/ hồn bi thảm mà của một người đã am tường cái mỏng tang của tồn tại. Đã biết cách sống cùng nghịch lý – tin yêu trong khi biết rằng tất cả có thể tan như bọt khí sumpanh. Và cũng chính từ trong bất thường thực hữu, thơ Lê Tuân cất lên một vẻ đẹp khiêm hạ: “hình như/ một cái gì đó/ chưa vẹn toàn và còn bỏ ngỏ/ có khi nào phải làm lại từ đầu không, hả gió”.
Một lần nữa, giữa những thanh âm chói hắt của thời thế, tục luỵ anh chọn tiếng nói mặc niệm trong vòng tròn nghi/ nghĩa. Giữa những tán dương giả tạo, anh “cảm ơn huyền bí đã mềm mại tôi”. Giữa một thế giới mờ đục, anh giữ cho chữ nghĩa một vùng sáng nhỏ, thanh sạch, nơi con người còn có thể tin vào cái đẹp và cái thiện, dù chỉ mảy may. Đó là cái “buồn thông thái” “dưới chân người bất tử”…
Và hành trình đọc thơ của tôi cũng khép lại, khi ánh lê minh lịm dần, hoàng hôn hạ âm thần từ tốn và dòng nước mắt đêm ăn lẹm vào ánh sáng ráng chiều. Cái còn lại không phải là lời, mà là dư âm thao thiết – một dư âm hoang oải/ quan tái - vừa lạnh vừa ấm, vừa đau vừa yên, như hơi thở sau cùng của một linh hồn vừa kịp hoá giải. Đó chính là cái đẹp của thơ Lê Tuân – một vẻ đẹp không phô diễn, không gọi mời, mà tự toả sáng từ “thung sâu cùng non” những truy nguyên hiện hữu và úa tàn: nơi bóng tối cũng là ánh sáng, nơi im lặng cũng là tiếng nói, nơi “ngọn lửa tái sinh”, tro tàn vẫn không thôi đòi “cháy sáng” khi đã qua một vòng đời “đốt hết thảy những ham muốn trong tôi” (Thắng để làm gì).
Tuấn Trần
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.