Trang trong tổng số 9 trang (88 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Điếu đông các đại học sĩ Phan công Thanh Giản (Nguyễn Đình Chiểu): Bản dịch của Ngạc Xuyên, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang

Thờ trải ba triều trọn sạch thân,
Không ông ai đỡ một phương dân.
Long Hồ thà phụ thơ sanh lão,
Phụng Các suông quy học sĩ thần.
Giữ tiết nhọc nhằn còn Phú Bật,
Hết trung nào giận mất Trương Tuần.
Mất còn sáu tỉnh trời kia biết,
Sao đặng thung dung tựu nghĩa thần?


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Ngũ nguyệt quan cạnh độ (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Hoài vương qui táng, Trương Nghi chết,
Nước Sở còn ghi khách bội lan.
Nghìn thuở gọi hồn nào có thấy?
Đầy sông đua chải thật thêm nhàm!
Nước mây nhiều lúc sầu thương hão,
Chiêng trống hàng năm hát múa tràn.
Nếu thật hồn về không chỗ ở,
Rắn rồng quỷ quái khắp nhân gian.


Ảnh đại diện

Thương Ngô mộ vũ (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Mưa trú Tầm Giang trễ chuyến đi,
Thành Ngô chiều xuống vẫn đầm đìa.
Lũ về ngập hết vùng Tam Sở,
Mây vẫn bao trùm núi Cửu Nghi.
Người lạ tóc dài nhìn dễ biết,
Đất Hoa thuyền nhỏ khó qua ghê.
Chiều hôm sóng lặng vời Tương Phố,
Chén rượu khoan thuyền viếng nhị phi.


Ảnh đại diện

Sơn Đường dạ bạc (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Giấc ngủ trưa dậy muộn
Bóng xế khép song tây
Gió mạnh buộc thuyền sớm
Non cao thấy trăng chầy
Tựa mui trông nghìn dặm
Nhắm mắt nhớ những ngày
Chớ nghỉ gần bên núi
Thâu đêm vượn hú rầy!


Ảnh đại diện

Thái Bình thành hạ văn xuy địch (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Ngoài thành Thái Bình gió tây lộng,
Thổi trên sông Minh nước gợn sóng.
Nước sông gợn sóng, lạnh trăng sông,
Ai đâu thổi sáo tựa bên song?
Hai mươi bảy người đều ngoái cổ
Quê nhà đã cách núi muôn trùng!


Ảnh đại diện

Vãn há Đại Than, tân lạo bạo trướng, chư hiểm câu thất (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Đêm trước sông Ngân đổ nước trời,
Bờ sông ngập phẳng, nước băng vời.
Quỉ thần phù hộ chưa tin được,
Rồng hổ linh thiêng mất cả rồi.
Trung tín ngày thường không giữ được,
Chết còn lúc đó phải đành thôi.
Hiểm nguy còn gấp mười phần nữa,
Muốn khấn thần minh, khó ngỏ lời.


Ảnh đại diện

Hoàng Sào binh mã (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Mấy dậm Hoa Sơn núi chập chùng,
Hoàng Sào dấu cũ ở bên sông.
Con người thủa ấy lên ngôi đế,
Là gã xưa kia trượt bảng rồng.
Câu nệ thói thường hư việc nước,
Gió mây biến đổi bởi đường cùng.
Từ xa muốn biết đầu đuôi chuyện,
Ông lái tuồng như chẳng tỏ tường.


Ảnh đại diện

Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Mở đường Ngũ Lĩnh đánh Viêm bang,
Công trạng ghi trong cuốn sách vàng.
Già lão khoe khoang còn có sức,
Áo cơm no đủ há cầu sang!
Ghềnh cao sóng dữ nêu oanh liệt,
Miếu cũ thông xưa cách cố hương.
Chiều dưới chân thành gai góc nọ,
Dâm Đàm hối cũ nhớ hay chăng?


Ảnh đại diện

Mạc phủ tức sự (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Suốt đêm tiếng lệnh giục không ngơi,
Đối ngọn đèn hiu đến sáng trời.
Xa nước mấy tuần lòng tựa chết,
Dọc đường toàn gặp khách quê người.
Bùn khe đọng lại lút mình ngựa,
Ma quái thành tinh khắp mọi nơi.
Tình cảnh khách xa đây khó tả,
Yên kinh muôn dặm bước đường dài.


Ảnh đại diện

Trấn Nam Quan (Nguyễn Du): Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Việc Lý Trần xa xưa khó xét,
Ba trăm năm trước đến ngày nay.
Ngăn chia hai nước, thành còn đó,
Hùng tráng muôn non, cửa vẫn đây.
Đất xa hay nghe đồn chuyện nhảm,
Trời gần mới biết đội ơn dầy.
Trông về cửa khuyết ngoài mây biếc,
Văng vẳng quân thiều tiếng nhạc bay.


Trang trong tổng số 9 trang (88 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: