Trang trong tổng số 27 trang (262 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Sở giang hạ phiếm thư sự kỳ 1 (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Mùa hè hồ nước dậy,
Chảy về bắc rất mau.
Cột buồm xuyên cây núi,
Thuyền hoa cưỡi bãi lau.
Cỏ tốt cò mập ngủ,
Ruộng màu nhàn thả trâu.
Khúc hái sen đâu đó,
Rèm cuốn chiều ngả lầu.


Ảnh đại diện

Chu đình Xích Bích ngẫu ngâm (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Bến Xích Bích thuyền tạm dừng,
Nhớ thời Tam quốc lửa bừng máu loang.
Gió đông nổi bệnh Chu lang,
Cười Nguỵ Vũ giáo ngang tàng ngâm thơ.
Cây trăng sáng bóng quạ mờ,
Cành hoa sông Hán lững lờ cuốn trôi.
Dấu xưa oanh liệt một thời,
Trong đêm lá đỏ bời bời tung bay.


Ảnh đại diện

Tế phong đài (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Khua chèo thuyền nhẹ lướt trôi,
Nam Bình dưới núi dấu đài còn đây.
Hoa lau nép bến, cờ bay,
Cánh quạ trở giữa lùm cây, lông xoà.
Lối học thầy đồ ngày qua,
Nay thời vận đổi khó mà chuyển xoay.
Dấu trung thuần vẫn quý thay!
Đài Đồng Tước rêu phủ dày, ai thương?


Ảnh đại diện

Đề Nhạc Dương lâu (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Ngước nhìn chót vót trời xanh,
Ba Lăng then khoá tường thành phía tây.
Chầu về Tượng Nguỵ, xa thay,
Cửa che một dãy núi bày Quân sơn.
Gương hồ cây khói chập chờn,
Hoa sóng nở chốn nước vờn bóng mây.
Muốn trèo lên cảm hứng đầy,
Hoạ đề tài khó sánh tày người xưa.


Ảnh đại diện

Quá Động Đình hồ hữu cảm (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Sứ từ góc biển dong thuyền,
Gió đưa buồm vải đến miền Ba Châu.
Mộ Tương quân núi sông lưu,
Con thuyền Phạm Lãi biết đâu mà tìm.
Đầm Vân Mộng ghé cánh chim,
Lầu Nhạc đương lúc triều đêm cá nhìn.
Nhạc Hàm Trì tiếng diệu huyền,
Dư âm còn vẳng tới triền Sở Khâu.


Ảnh đại diện

Củng Cực lâu đối vũ (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Đoan dương qua khí nực nồng,
Lên lầu thừa hứng nhìn thông bốn bề.
Buồm khách Việt mưa lê thê,
Đàm thành đàn sáo vọng về từ mây.
Nhớ Khuất Nguyên ủ lan gầy,
Thương Đế tử trúc vơi đầy lệ sa.
Nước chảy siết biết chi mà,
Năm năm bầu bạn ông già ngồi câu.


Ảnh đại diện

Đăng Trường Sa Củng Cực lâu lưu đề (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Đâu ngờ được cuộc chơi này,
Lên lầu giữa hạ cát bày như sao.
Trúc chiêu hồn khách Ly tao,
Ngựa xảy chân chạnh mối sầu Giả sinh.
Mây phong chân núi gập ghềnh,
Khói tan quất nở dăm cành bãi sông.
Chiều tà buồm hút bầu không,
Tứ thơ nước cũ muôn trùng sang thu.


Ảnh đại diện

Đề Trường Sa Triệu tri huyện phiến diện Lý hàn lâm hoạ mai (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Mai nhà ngọc tao nhân ưa,
Diệm Khê dời đến chăm lo vun trồng.
Thân già dâm chếch khói lồng,
Cành quỳnh lần lượt nở trong tay người.
Hồn bướm trộm hương đi rồi,
Hứng thơ khởi đạp tuyết phơi tới tầm.
Ghế ngồi phe phẩy thoả tâm,
Luồng gió mát mang mùa xuân sớm về.


Ảnh đại diện

Hoạ Lê Tấn Trai Binh bộ Thạch Cổ sơn thư viện nguyên vận (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Nơi đây di tích Nguyên ông,
Núi nhiều tầng mặt trời hồng đẹp thay.
Sông vòng ôm sản vật đầy,
Tên cao nhân ngọn núi này khắc ghi.
Tay lần chữ cổ trên bia,
Thử dòm tuyến mặt trời đi bao chừng.
Trời chiều khách bước ngập ngừng,
Tiếng đọc sách lọt qua từng cửa thưa.


Ảnh đại diện

Thạch Cổ sơn nạp lương (Trịnh Hoài Đức): Bản dịch của Hoài Anh

Hành Dương tháng năm không mưa,
Buộc thuyền Thạch Cổ nghỉ trưa nực nồng.
Chưng Tương đình hợp hai dòng,
Người hai tay áo trúc tùng gió xao.
Nuốt Ngô, tướng Hán gian lao,
Cao ngâm tưởng tượng Đường trào Nguyên ông.
Núi đừng cao tới bầu không,
Người hiền cảnh ngộ bất đồng, lạ chi.


Trang trong tổng số 27 trang (262 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: