(Một đêm của nhà thơ Cao Bá Quát)

những con cá vàng ngủ mê trong điện Thái Hoà
cặp mắt giấu sau bóng tối
tiếng thở dài
bàn tay nơi không thấy bàn tay
phút chốc đốm lửa loé sáng
người lính canh bên con nghê

bao giờ

ta không định ra đi hay ở lại

hoa gạo trong sương sớm
nung nấu lòng kẻ xa
ta đứng phía mặt trời lên chậm
nửa đường đời cơn gió thoảng qua
đừng nói đừng nhắc

ta thèm nghe tiếng giã gạo
vợ hiền tấm mẳn làm thuê
và dòng sông chảy ta nghe
mùa đông bãi quạnh lạnh tê gió lùa
ta như thể cành bàng khô
cắn răng chịu rét mà chờ lộc non

bao giờ

câu hát thời bé dại
“ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”…

sẽ tới lúc chăng

con nghê đá người lính canh hoá đá
đêm cứng khô như một bức tường

ai thả rơi từng bước chân
hoang vắng… áo phong trần tả tơi

ta đã giải trọn kiếp người
với dòng sông dựng ngang trời thanh gươm

với bài ca thuở khốn cùng
hát bên người đói ngập ngừng xin cơm
với tàn nhẫn lời roi song
cháy trên da thịt hãy còn biết đau

đừng nói đừng nhắc
ta đã gượng dậy thế nào
để ném những câu thơ
như khạc từng búng máu

có lúc vào canh ba sợi dây đêm chùng lại
ta lấy chiếu đắp thêm cho chú nhỏ
khêu bấc đèn ngóng đợi
ngỡ vừa nghe tiếng kẹt cửa của hư vô
giận mình chưa học được phép ngủ
mắt trừng trừng mở trước vực sâu

những con chuột nhắt
gặm nhấm tấm vải hy vọng
mà ta canh cửi suốt đời
những con chuột nhắt
bò qua khoảng không chóng mặt
lên tận chín tầng trời

khoảnh khắc ta hụt hẫng
mây dưới chân tan loãng rã rời
hố thẳm
bao năm ròng chới với
lòng mê man vin một chút danh hờ

trên đất nước trận bão đen tàn hại
bầy châu chấu từ đâu về che kín mặt trời

lúa te tướp mặt người xanh xám
dài làm sao những buổi chiều trống rỗng
bụng quắt queo kiến bò
cái đói thật tình xuống hai hàng nước mắt
nào phải chuyện văn thơ

nào phải lối đãi bôi thù tạc
trăng trong chén anh
là giọt rượu cặn cuối cùng
của sông Trà một đêm khói sóng
nhìn mắt bạn thấy bóng mình lẳng lặng
mối hận bỗng trào lên cuộn xoáy con thuyền

dù đi hay ở
chẳng bao giờ ta quên
bàn tay bạn giơ ngang như níu kéo

như buông bắt cái gì tận xa vời
ta chỉ là gã nhà thơ cùng đường quay trở lại
lòng ước ao thoáng hạnh phúc mơ hồ

tóc xoã đầu ngọn gió
rối bời bao tâm sự
ta già rồi chăng

trước mặt bức tường cao thêm mãi

gánh nặng lưng còng trèo non lội suối
xoè bàn tay còn lại đất bùn
mong tài năng nở rộ dưới vầng dương
buồn cười thay
nghe trong miệng vị sương mù nhạt thếch

Con chim quyên lỡ vận
lang thang trên mặt đất
tiếng kêu sao nghẹn ngào
ta đã phí hoài quá nhiều sức lực
gót chân mòn những bước không đâu

ở nơi đó dường như tình yêu
lần thứ nhất hoa xoan rơi lấm tấm
mưa giêng hai thấm áo người ơi
ở nơi đó ta nhỡ một nụ cười
ba mươi năm sau nhớ lại còn muốn khóc

nỗi nhớ của người đi trên cát
mỗi bước mỗi lùi về tuổi thơ
những khao khát bỗng thành chõ vỡ
mắt đăm đăm cát trải mịt mờ

thì cứ đi cứ đi và đi mãi
như nước kia chảy không bến không bờ
ta đã ném thơ mình vào thác xiết
một sợi chỉ mành mỏng mảnh treo chuông
một tiếng thét khi đầm lầy dâng ngập cổ
trước mõm chó trước vó ngựa
lần đầu thơ biết đến hiểm nguy

hãy đứng lên ngọn lửa
giữa màn đêm kinh sợ
hãy thắp sáng lời nguyền rủa
trước Ngọ Môn
hãy uống cạn con đường
đầy chông gai cạm bẫy

hãy xuyên thủng bức tường
bằng ngôn ngữ
hãy chế ngự thời gian
bằng lặng lẽ

ta đã vãi tung những hạt giống của mình
vào đất đai tăm tối

bao giờ cho đến tháng ba

trẻ gọi trâu lanh lảnh ngoài đồng lúa đang thì con gái
luỹ tre ngà lơ mơ
cái áo khoác thanh bình
tiếng tu hú trôi trong màu đỏ
tháng năm về thức tỉnh những mầm sen
có gì khiến ta bứt rứt
có gì không thực
qua vẻ hiền lành khép nép kia

ta thích hoa phượng
cháy tận cùng ngọn lửa
dù phải thiêu đốt cả mùa hạ

ai thảnh thơi ăn măng trúc mùa thu
gió heo may ta cúi đầu từ biệt
dăm bảy học trò mang rượu tiễn đưa
các con đừng khóc
ta đi đâu
lênh đênh theo đàn chim di trú

ai cắn răng qua cầu mùa đông
cầm cố áo bông đổi vài đấu cám
chợt ấm lòng nghĩ tới người thân

nếu chỉ sống cho riêng mình
cảm sao nổi phút tấm lòng kỳ lạ ấy

                     *

đã trộn trong ta hàng ngàn số phận
như bột nhào như vôi vữa
mong một ngày hiện rõ
chất thật mỗi con người

lặng yên trên bề mặt
gào thét dưới chiều sâu
hiểu những giới hạn
và khoảnh khắc
một thành hai thành ba thành vô số

mãi mãi dò tìm
mãi mãi không thể nào chạm đáy

những quả táo non chua chát
ngọt ngay dưới mắt trẻ thơ
cha lẩn thẩn đi học nghề mổ rồng
đâu ngờ các con đói gầy đến thế
như Thiếu Lăng thuở xưa về nhà
ôm mặt khóc đất trời sầm tối

những giọt nước mắt
tắt nhanh trên cát
những giọt nước mắt
chẳng cần hoá ngọc
ném gông dài làm chiếc thang mây
cười dội tới những tầng cao chất ngất

ta sống lại nhờ tiếng cười
lần thứ hai chào đời từ ngục thất

xin bạn đừng kinh ngạc
vì sao chiếc mầm cây nhỏ nhất
bị cả mùa đông nhào vô trấn lột
bị bóng đêm lường gạt
vẫn trần trụi lớn lên

trên cánh đồng ngập ngụa
trên màu lam lũ những ao bèo
ta biết mình sẽ trở lại
với bạn nghèo ăn bữa cơm rau dưa
uống chén rượu thơm nồng không pha phách
cất bằng thứ men truyền giữ đã bao đời

ta sẽ trở lại
dù phải húc đầu vào đá
để mở cửa

sau mùa đông là mùa xuân
sau cái chết một bắt đầu khác nữa

rêu nhuộm thời gian quanh gốc gạo
đàn quạ kêu trên đỉnh tháng tư
chuông chiều buông dòng sông chảy chậm
sao vụt xanh dải ráng chưa mờ

có tiếng gì chừng quen thuộc
đến từ sắc trời phút giây thay đổi
chừng gọi ta từ yên tĩnh không cùng
hỡi người bạn đường mệt mỏi
đâu là nơi dừng tạm bàn chân

đâu con sóng dịu dàng
đưa đẩy vành trăng
đâu lời ru lúc quên lúc nhớ
như mây mù mây tan

gió
cát
quay cuồng
chiếc lá
xốc áo đứng lên
lưu đày
bầy cá nược đua theo thuyền
trăng bầm đỏ
mặt biển bùng cơn ác mộng
con quái vật lừ lừ phun khói
đang bò về phương Đông

ta thét gọi
chỉ mình ta tỉnh thức
tiếng ta chìm như hòn sỏi giữa mênh mông

lặng ngồi cho cạn đêm sương
nâng chén rượu với hư không chuyện trò
một đời trải bấy âu lo

cái vui thiên hạ bao giờ vui chung
bình sinh khoác mảnh chăn đơn
đói no ấm lạnh thói thường khác nhau
nỗi niềm lo trước vui sau
hai con mắt mở chiêm bao mấy lần
bước đi bước ở tần ngần
trống hoang quán trọ trần gian gió lùa

ta sẽ trở lại
con người
dài hơn mọi con đường

giữa hai hàm răng là bóng tối
những người trốn thuế trốn sưu
bóng tối trùm lên cái nhìn hốt hoảng
những người không muốn chết trước lăng vua
như sỏi đá
những người vốn rụt rè ai gọi cũng dạ
suốt đời quẩn quanh chật chội luỹ tre làng

vì lẽ chi
họ bỗng đặt vào ta bàn tay lửa

ta có thể đưa tặng họ món ăn gì
ngoài hy vọng?
ta có thể trao cho họ của cải gì
ngoài gánh nặng?
khi ta giương ngọn cờ cay đắng
vì lẽ chi họ hăm hở tụ về?

không ban phát những lời hứa hẹn
ta chỉ vung sự thật như cái vồ bằng đá
giáng xuống những cơn mê

hãy tỉnh dậy
từ giấc ngủ
nhằm đánh lừa
cái bụng đói
nhằm an ủi
vết thương sâu
hãy tỉnh dậy
bóc lá cao
lời đường mật
vứt toa thuốc
bọn lang băm
chuyện mánh mung
trò bố láo
hãy tỉnh dậy
chớ mộng du
đừng khiếp sợ
sống trên đời
sông có khúc
người có thời
hết buồn khổ
tới mừng vui
hãy tỉnh dậy
nào bạn ơi!

ánh sáng của cây xanh
bóng mát của đất lành
ta nhận ra ngọn suối nơi dòng sông mình ngụp lội
mà tiếng nói
đột nhiên, lấp lánh

ta nghe những cánh rừng quẫy mạnh
trong hoang vu
cây vươn vai ầm ào như bão
có nhẽ ta chưa từng đến đó
chưa dò xuống những bậc thang kỳ lạ
để thám hiểm chính mình
để vớt lên
những cánh hoa cho mùa xuân khác

gương mặt nào quá ư thân thiết
và niềm vui hiếm hoi
như rượu quý nhiều năm chôn dưới đất
giọng hát sau đền đài đổ nát
cứ lay giật hoài cánh cửa riêng ta

không phải bàn tay cẩm thạch
chuyển đến cái vuốt ve bằng đá
những rú gào xé rách màng tai

khô khốc
một tiếng kêu ngắn
khô khốc

khoảng lặng im đầy âm nhạc

chờ đợi những bước chân
của màu nâu trầm ấm

gió như điên qua mái nhà cũ nát
ta cứ ngồi và trôi trong đêm lễnh loãng.

này, bác gió
sao không tung hê bọn ăn trên ngồi trốc
lại đi giật tấm tranh anh em nghèo

này, bác gió
hãy thổi xuyên thân hình ta như ống sáo
khúc nhạc dành cho những chồi non

tính ta ưa chọc cười
với bạn bè hay vui chén rượu
những giấc mơ nào xa lắc
thỉnh thoảng cập về bến cũ ghé thăm

ánh sáng với mù sương
ùa vào cùng một lúc

con đường lầm lội
gió hong khô lớp bùn váng bên ngoài
lẽ “hành tàng” nhiều khi nói mãi
sợ con chào mào trên cây khế rình nghe

ta đứng đây
nương tựa vào chính mình vào mặt đất
nơi đặt bàn chân
những chiếc lá run run bỗng xích lại gần
với cái nhìn dịu dàng
ta sẽ thở
bằng lồng ngực chật căng sau manh áo vá
tiếng nói âm u từ vô vàn mạch máu
chảy nóng rực bầu trời
ta sẽ đẩy tiếp sá cày
trên khoảng đời còn hoang hoá

nếu con người không biết đau khổ
nếu con người đánh đổi
cả cuộc sống cho sự bình yên giả tạo
nếu con người tránh né
những câu hỏi của riêng mình

ra sẽ rung lên hồi chuông
từng tiếng chuông sẽ vỗ vào vai họ
như bàn tay một người bạn chân tình
qua thời gian sấp ngửa
rắn lại, óng ánh
như hổ phách ngân nga trong thầm lặng

những vòm cửa hình cánh cung
đứng sững
những hạt bụi đã bao lần quay đảo
hoa cúc vàng lên ngôi
những mái nhà xám hơn mây xám
trôi chầm chậm qua sông
những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy
một khung trời gãy gập của mùa đông

như người thức giấc sau mộng mị
mùa xuân dụi mắt cười ngơ ngác
dòng sông mở mát xanh mời mọc

vươn khỏi cô đơn
hoa bừng tỉnh đón niềm vui ngây ngất
hoa thanh thản chết đi từng khoảnh khắc
hoa nhẹ nhàng báo trước những lo âu

họ dẫn ta về đâu
bị trói chặt giữa vòng dây và bóng tối
giữa thói quen hàng ngày và nỗi sợ
những chữ lạ viết mãi vào không khí
thẩm vấn tra tấn ngục tù
không duyên cớ không tuyên án
tóc bạc trắng chờ lưỡi-dao-chưa-biết-bao-giờ-đến
tại ta không muốn bỏ rơi những gì tốt đẹp
ta mỏng manh như một con người
với tình thương
lấy lưng mình che đỡ những câu thơ non nớt
lấy những câu thơ làm tấm áo che người đang rét
trước ngọn roi gió bấc phũ phàng.

dù tất cả sẽ trôi qua

nắm chặt bàn tay
những ngôi sao mọc giữa bùn lầy
sáng trong nước mắt
con đường xuyên đám mây giông bão
chiếc lá xoáy
mưa hút vào thung lũng
nghe giá lạnh tàn phá cơ thể

ta đứng bên bờ sông bông cỏ nở hoa
một giọng nói rất khẽ
những chấm xanh nhỏ nhoi này là tín hiệu của mặt đất
của mặt đất lớn lao thường xuyên bị đẫm đạp
đến với ta như dòng nước mát
như mắt con ta sau chuỗi ngày xa cách
như hàng xoan non rưng rưng tháng giêng

cỏ bồng bềnh câu thơ hoang dại
cánh đu tiên mùa xuân
ta đã bay quá lằn mức đời mình
trên cả dao động và yên tĩnh

bỗng tiếng gà như sóng
vỗ tràn qua không gian

khi người ta thức đến canh tư
con mắt nhìn bóng đêm sẽ khác

bạn ơi, vì sao quyến luyến
trăng gác non đoài trăng chẳng nỡ quay lưng
đời mấy lần gặp gỡ
muốn vươn tay kéo núi về gần

ban mai rồi sẽ tới
như dòng sông lao xuống từ trời
ta vục đầu vào khoảng xanh ngợp ấy
tóc ướt đầm ánh sáng

cơn sấm rền chớp xé tầng mây
lúa phất cờ đứng dậy
những hàng cây bùng cháy

ta chờ đợi

băng ngang trời đàn ngựa trắng

rền vang móng gõ
xanh đỏ tím vàng
lúc hiện lúc tan
tiếng trong tiếng đục
những người chân đất
những người thở dài
những người cúi mặt
chưa biết về đâu

băng ngang trời đàn ngựa trắng

ta vung thanh gươm
theo chiều lá lúa
bạn ơi đừng hỏi
những người chân đất
những người thở dài
những người cúi mặt
rằng họ là ai

băng ngang trời đàn ngựa trắng

những con cá vàng
những con nghê đá
một đốm lửa nhỏ
một giọng nói người
bàn tay bầm dập
tìm nắm bàn tay
bạn ơi đừng hỏi
rằng ta là ai

băng ngang trời đàn ngựa trắng
cấy xuống đồng sâu
đời người - dảnh mạ
phải mùa nắng nỏ
gặp bấc tháng ba
héo quắt xương da
sâu rầy phá hại
tai ương chướng hoạ
châu chấu tủa về
cắn phăng gié lúa
kêu trời không thấu
lũ tràn vỡ đê
nước mắt dầm dề
nhoà trong mưa xối

bạn ơi đừng hỏi
ăn mày là ai

băng ngang trời đàn ngựa trắng

ta đã thấy những con tàu đồ sộ của một thế giới khác
như hiện từ giấc mơ ma quỷ
nhưng cái gì sẽ đổi thay?
vẫn những người da đen còng lưng kéo xe cho người da trắng
trên sân khấu cuộc đời vẫn bôi mặt vẽ mày nhí nhố gươm đao
mục nát lại chồng lên mục nát
những chiếc ngai sơn son thiếp vàng những võng lọng
đình đám những tiệc tùng thừa mứa
hệt như thời Nguyễn Du đã thấy
và mặt trời cứ lẩn tránh
không rõ vì xót thương hay xấu hổ hay hèn nhát
bỏ mặc dân đen cho lũ sói diều

muốn hỏi cây gạo làng Phú Thị mà hoa đỏ bao lần ám ảnh tuổi thơ
muốn hỏi chiếc gông dài nặng hơn cả ngàn trang sách
mùa xuân mang rượu lên núi cao
muốn hỏi Ức Trai người anh hùng muôn thuở

cái gì sẽ đổi thay?

kêu một tiếng giữa rỗng không lạnh giá
mù sương
mắt ráo khô
con đường cát lún
vài ánh lửa chập chờn

có lẽ xóm giềng đà trở dậy
thơm thơm mùi khói nùn rơm
hạt móc rơi trên tàu lá chuối

ta đi và tất cả dâng lên
gương mặt tiều tuỵ của đứa con
mái nhà cũ phên tàn dậu đổ

ta đi và tất cả dâng lên

Quê hương
nếu cần phải làm lại
nếu phải làm ngay không trễ nải
ta xin hiến nốt đời mình

chỉ để gióng lên hồi chuông

lớp người sau sẽ đến
những ngọn sóng trong đêm
khởi từ giờ tý
nơi bản lề cánh cửa mở vào ngày mới
ta xin đứng lại
chiến đấu như một người
chặn đường nỗi sợ
và chết như một người
đã vượt lên nỗi sợ

ở những ranh giới mơ hồ
đây là điều sáng tỏ
phải trả giá cho mỗi phẩm chất người
dù rất nhỏ

khi quả cây chín được trên cành
nó không lo bao giờ rụng xuống


Tháng tư năm Nhâm Tuất (1982)

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Tôi viết trường ca “Đêm trên cát”

Có những tác phẩm được viết ra ngỡ như hết sức tình cờ. Trước cái đêm tôi được hầu rượu nhà thơ Tế Hanh ở nhà anh Nguyễn Trung Hiếu thị xã Quảng Ngãi hình như vào năm 1981, tôi chưa hề nghĩ mình sẽ viết một bài thơ - chứ chưa nói một trường ca - về Cao Bá Quát, dù tôi là người ngưỡng mộ nồng nhiệt Cao Chu Thần.

Cuộc rượi tối hôm ấy, chúng tôi nhắc tới bài thơ Trà giang thu nguyệt ca của Cao Bá Quát. Tế Hanh đang hào hứng ca ngợi bài thơ này hết lời, thì bất chợt tôi chen ngang: “Em sẽ viết một trường ca về Cao Bá Quát, chỉ dồn nén trong một đêm của nhà thơ. Sau một đêm thức trắng, mái tóc bạc của Cao Chu Thần bỗng… xanh lại”.

Thực lòng, tôi không thể hiểu vì sao lúc đó mình nói như thế, cứ như cái trường ca ấy đã nằm trong đầu mình lâu lắm rồi. Và cả mái tóc bạc chuyển thành…xanh của Cao Chu Thần chỉ sau một đêm suy nghĩ, cứ như tôi đã nghiền ngẫm hình ảnh ấy từ lâu lắm. Thực ra, đó chỉ là câu nói buột thốt, nhưng hình như nhà thơ Tế Hanh - một người rất nhạy cảm - hiểu câu nói ấy như một lời hứa. Ông động viên tôi: “Em phải viết đi. Cái tứ ấy hay lắm!”

Sau lần đi Quảng Ngãi đó, về Qui Nhơn tôi đã lao vào tìm đọc tất cả những gì có được lúc ấy liên quan tới Cao Bá Quát, nhất thơ chữ Hán. Tôi đọc không biết bao nhiêu lần. Đọc cho ngấm, cho ngấu, cho đau, cho uất. Trong thơ Cao Bá Quát có đủ cả hỉ nộ ái ố ai lạc, nhưng vượt lên trên tất cả, là vẻ cương nghị thầm lặng, là cái tình sâu đậm, sự sẻ chia trong hoạn nạn, trong khốn khó của nhà thơ với nhân dân mình, với một người dân, một con người cụ thể, và với quê hương, với cái làng Phú Thị nhỏ bé có cây gạo đầu làng mà người lưu lạc mỗi khi trở lại quê nhà đều nhìn thấy từ rất xa. Đó là thơ của một nội tâm dữ dội, của sự dồn nén ghê gớm, và của sự bùng nổ giữa các dòng chữ.

Hình như, tôi bắt đầu bắt sóng được với khối thơ - thuốc nổ ấy. Dù không thể hình dung mình sẽ viết cái trường ca ấy như thế nào, nhưng tựa đề Đêm trên cát với lời đề từ “một đêm của nhà thơ Cao Bá Quát” thì tôi đã nghĩ ra từ trước khi viết dòng thơ đầu tiên. Nó như một tiêu điểm mà bài thơ mình hướng tới. Ngay cả cấu trúc bên trong của bài thơ, tôi cũng mong muốn nó sẽ mang hình thức cấu trúc của một sonata với sự chặt chẽ, đối chọi, dồn nén cao độ và những cao trào bùng nổ. Tôi không học nhạc lý nhưng rất mê nhạc cổ điển, và hồi đó dẫu vất vả nhưng tôi vẫn tìm được cách để thường xuyên nghe nhạc cổ điển.

Sau mấy tháng “tích điện Cao Bá Quát”, tôi đã viết được những dòng thơ đầu tiên. Chưa có trường ca nào tôi lại viết được liền mạch như thế, những câu thơ nặng nề, uất ức cứ tuôn ra một cách như dễ dàng, như nhẹ nhàng. Tôi viết từng đoạn trong một cuốn sổ tay, rồi viết lại trong máy chữ.

Có những đêm ngồi ở nhà thầy má tôi tại quê, nhà không có điện, tôi thắp ngọn đèn dầu hiu hắt và… viết. Những lúc ấy, giữa bóng đêm và bóng đèn nhập nhoạng, cứ như Cao Chu Thần hiện về trước trang giấy, lặng lẽ chuyện trò cùng tôi. Đó là những phút giây thật sự hạnh phúc.

Linh hồn Cao Chu Thần đã phù hộ tôi, dắt dẫn tôi trong từng đoạn thơ, hay chính tôi trong trạng thái bất thường như thế đã “bắt sóng” được với thơ Cao Chu Thần - nghĩa là đã bắt sóng được với phần tâm huyết, sâu kín của nhà thơ. Nếu đọc kỹ thơ Cao Bá Quát, ta sẽ không ngạc nhiên về bước đường tư tưởng và hành động của ông, kể cả quyết định dấn thân cuối cùng là trở thành lãnh tụ khởi nghĩa nông dân. Tôi muốn cô đặc cả hành trình dài đầy phức tạp ấy của Cao Bá Quát vào một đêm thức trắng của ông. Một đêm cho cả một đời.

Đêm trên cát thì khi viết đoạn kết trường ca, hình ảnh “mái tóc bạc của Cao Bá Quát bỗng xanh cả lại” đã không xuất hiện như hình ảnh chợt đến với tôi ban đầu. Thay vào đó, là hình ảnh một quả cây: “khi quả cây chín được trên cành/ nó không lo bao giờ rụng xuống” - một quyết định nhận đường bình thản. Sự thay đổi đã lặn vào bên trong, không hiện rõ như hình ảnh “tóc bạc-tóc xanh”, nhưng cách khẳng quyết về một khả năng sống lại thì đã rõ.


Thanh Thảo

(Theo Báo Tuổi trẻ online)
"Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng!"
Nhắc suốt đường cũng chỉ bấy nhiêu thôi.
(Olga F. Berggoltz)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Vài dòng về Cao Bá Quát

Cao Bá Quát 高伯适 (1809-1855), danh sĩ đời Tự Đức. Ông có tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Thơ văn của ông được vua Tự Đức, một người giỏi văn thơ, đã phải ngợi khen: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán(Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng). Cao Bá Quát là bạn thơ văn với Nguyễn Văn Siêu, tạo nên cặp nhà thơ Thần Siêu Thánh Quát.

Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Phú Thị, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Có tài liệu cho rằng quê gốc của ông ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.

Năm 1832 ông thi hương đỗ Á Nguyên, nhưng thi hội mãi vẫn không đỗ. Nhưng ông không đỗ, không phải vìkém tài mà là vì bị quan trường đánh hỏng. Năm 1841 ông được bổ giữ chức Hành tẩu bộ lễ.

Tháng 8 năm 1841 ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm huý, ông cùng bạn chữa giúp. Việc bị phát giác, tội ông đáng chém nhưng sau được xét lại, chỉ cách chức và tù 3 năm. Năm 1847 ông được mời làm ở Viện hàn lâm, sưu tầm văn thơ. Cảm kích trước thái độ ân cần giúp đỡ của hai vị công khanh là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, ông gia nhập Mạc Vân Thi xã (do hai công khanh sáng lập).

Do tính khinh miệt triều đinh và vua quan, Cao Bá Quát bị đầy về làm giáo học ở vung quê Quốc Oai rồi làm Quốc sư cho Lê Duy Cự, dòng dõi nhà Lê, nổi lên chống triều Nguyễn năm 1854. Lúc đầu quân khởi nghĩa dành được một số thắng lợi ở Sơn Tây, Nam Định, nhưng rồi bị quân triều đình đánh tan.

Theo Thư mục chính biên thì ông bị bắn chết trong một trận đánh, nhưng có tài liệu cho rằng ông bị bắt giải về triều và bị chém đầu. Vua Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao.

"Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng!"
Nhắc suốt đường cũng chỉ bấy nhiêu thôi.
(Olga F. Berggoltz)
Chưa có đánh giá nào
Trả lời