Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 29/04/2010 18:35

(tiếp theo phần 2)

Ngục sầu chẳng ngõ mà tan,
Dấu chân là cõi Niết-bàn tự tâm.
Độ đời đại nguyện vừa xong,
Hạc vàng lại cất cánh bồng suối mây.
Bốn vị long vương biển này
Hóa ra một chiếc võng đầy trăng sao
Đưa Đại Thì đến rừng nào,
Là muôn hoa nở ngạt ngào dâng hương.
Ngô khoai biêng biếc bốn phương
Cũng căng mạch nhựa cúng dường thánh nhân.
Ngài vừa ngự xuống bên thành,
Thế gian che áng mây lành rộng xa.
Vào rừng thăm hỏi mẹ cha,
Bỗng dưng đất hiện hai tòa kim cang.
Lại thêm hoa kết lọng vàng,
Nụ xanh chiếu ánh hào quang chói ngời.
Hương thơm dâng cúng hai người,
9.700.  Ơn sinh dưỡng dục mấy trời công lao.
Bàng hoàng như giấc chiêm bao,
Trông ra bốn cõi ngạt ngào hoa hương.
Suối sông thành nhạc dị thường,
Như dây tơ báu giương đờn vô thanh.
Thấy con oai đức trọn lành,
Mắt soi mặt nguyệt mây thành vóc thân.
Từ ngày đường cuộc phù vân,
Trần gian in đậm dấu chân đại từ.
Núi sông mòn mỏi đợi chờ,
Một đi còn tưởng bao giờ gặp con.
Mẹ dù cạn lệ héo hon,
Cha dù ngóng nhạn đỉnh non tiêu điều.
Hướng nhìn thấp thoáng mây chiều,
Tưởng con trải bóng y điều vân du.
Năm năm mây nước cầu tu,
Trầm tư đại đạo dẫu dù xương tan.
Bây giờ ngộ nhập pháp vàng,
Thí về mở rộng con đàng trí bi.
Tin lan khắp cõi thành kia,
Người người kéo đến bốn bề y nương.
Non xanh thành chốn đạo trường,
Mây xanh kết chiếc tán hường mở che.
Gió trời thổi sạch tham mê,
Sương lam đọng hóa lưu ly tràn đầy.
Ngạt ngào cõi đất hương bay,
Mù lòa sáng mắt, mê say giật mình.
Ngài đem viên ngọc trí minh
Giơ lên: vạn dạng muôn hình biến ra.
Trái căng mật ngọt la đà,
Mầm tươi trổ đất muôn hoa nở bừng.
Ngọc vàng cát hóa hiện lên,
Suối sông mã não bốn bên tỏa ngời.
Người không tham của rụng rơi,
Mê sân như bóng sương trời tan mau.
Chẳng còn ngu muội, nghèo giàu,
Thoát vòng mê tối như nhau khác gì.
Ngài lại lấy ngọc đại bi
Giơ cao ánh sáng diệu kỳ tỏa soi.
Chư thiên mười mấy tầng trời
Thắp đèn tinh nguyệt khắp nơi kéo về
Cúng dường muôn dặm mây kia,
Kết thành lọng gấm bốn bề hoa giăng.
Chim ca mừng gió chiên đàn
Thổi bay phiền não muôn ngàn chấp mê.
Chẳng còn thù giận ngăn che,
Muôn loài tỉnh thấc quy về Phật tâm.
Bấy giờ thành thị sơn lâm,
Nhân thiên hòa hợp thú cầm yên vui.
Hai viền diệu ngọc sáng ngời
9.750.  Kết thành một phiến mặt trời bay cao.”
Phật tiếp: “đó giấc chiêm bao,
Ngàn muôn kiếp mộng lao xao sóng dồn.
Núi tan cát hợp nên cồn,
Thế gian ba cõi vô thường đổi thay.
Nghiệp duyên muôn lớp thành dầy,
Mảnh trăng tánh Phật lấp mây mịt mù.
Bây giờ phải gắng công tu,
Trau dồi thập thiện đền bù nghiệp căn.
Giữ gìn tâm trí đẹp lành,
Tốt tươi cũng ở lòng thành tỏ soi.”
Bấy giờ khắp quỉ trời người
Lĩnh nghe Pháp bảo diệu vời nhập thâm.
Ngài dạy nơi cõi hồng trần
Hết tan lại hợp xoay vần biển dâu.
Tâm kia như khối minh châu
Tỏa soi muôn cõi trước sau vẫn thường.
Dù cho muôn hướng muôn đường,
Ngàn sông về một đại dương khác gì.
Chân tâm đại trí đại bi
Hiện bày như thể muôn vì trăng sao.
Thế gian như áng mây đào,
Sương bay đầu sớm bọt trào biển sôi.
Biển xanh bỗng chốc nên đồi,
Bánh xe ảo hóa giữa trời ai xoay.
Bây giờ thành Phật cõi này,
Hóa thân trí tuệ cỏ cây cũng là.
Mẹ xưa hoàng hậu Ma-gia,
Cha hiền thuở trước nay là Phạn vương.
Bốn vua rồng trấn đại dương,
Giờ theo chính đạo một phương tu trì.
Kiếp xưa căng võng lưu ly,
Cúng dường chính đạo diệu kỳ mở khai.
Bây giờ bên đức Như Lai
Như sao Bắc đẩu bên đài sen hương.
A-nan xưa kiếp long vương,
Đã từng dâng ngọc chân thường trí minh
Khiến muôn cõi nước thái bình,
Xô tan vọng nghiệp chúng sinh đời đời.
Kiếp này phúc báo tột vời,
Suốt thông, một ý một lời chẳng sai.
Triều âm như thể biện tài,
Phục hàng ngoại đạo mở đài liên hoa.
Cho dù muôn kiếp vào ra,
Bước chân đại nguyện trong nhà trầm luân.
Nghe Phật vén mở phù vân,
Từ vô thủy đã bao lần gặp nhau.”
A-nan cung kính cúi đầu,
Bỗng dưng hoa tía trên đầu vờn bay.
Động Phật ngự chợt ùn mây,
9.800.  Hào quang chiếu tỏa ngàn cây trái hồng.
Núi quanh chim cũng phiêu bồng,
Rủ nhau đậu khắp cánh đồng khoai môn.
Từ hang trầm ngát Thế tôn
Hào quang năm sắc dị thường tỏa xa.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam