Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 01/06/2010 18:24

PHÁP ÂM

Lời vàng dậy đỉnh non xưa,
Ngàn năm truyền đến bây giờ còn tươi.
Còn vang vọng trái tim người,
Tạo nên sức sống nơi nơi từ hòa.
Như chuông thần gợn dư ba,
Lay cơn mưa trải Ta-bà xanh xao.
Như hương xuân giục bông đào,
Càng dầy sương tuyết càng cao nguyện thề.
Như ngàn mạch suối vỗ về,
Trăm cây đơm trái, ngàn huê trổ màu.
Tướng như mây quyện non sâu,
Tánh như trăng hiện bên cầu chơi vơi.
Luồn trong nhịp võng ơi hời,
Đạo nuôi con lớn giữa hơi nồng nàn.
Ẩn trong ánh mắt dịu dàng,
Đạo đưa người đến vinh quang đại đồng.
Thắm vào hoa cỏ non sông,
Mở ra cùng với vừng hồng chiêu dương.
Lời vàng đưa khắp mười phương,
Khơi thêm trí sáng lòng thương mọi loài.

PHÁP ẢNH

Thiên nhiên quanh bước chân Ngài,
Đã từng kết ngón tay dài chỉ trăng.
Đời đời kế tục truyền đăng,
Góp từ quanh bến sông Hằng gieo đi.
Giờ còn bát ngát xanh rì,
Nơi lòng kinh luận từ bi nhiệm mầu.
Bao nhiêu ý nghĩ cao sâu,
Kết nên như một con cầu qua sông.
Nào là non tím đồi hồng,
Nào khe mây lặn, nào đồng trổ hoa.
Nào sông bọt sóng la đà,
Ánh trăng cổ lũy, canh gà thôn sương.
Bao nhiêu dấu tích tang thương,
Còn phơi phới ánh chân thường tịch nhiên.
Đọng thành chủng tự nhiệm huyền
Luân lưu gieo xuống khắp miền thế gian.
Ý hiền xưa vẫn còn vang,
Cỏ hoa xưa vẫn ươm vàng như xưa.
Hạt lành bao kiếp truyền thừa,
Xuân nay lại trổ trang thơ kinh Hiền.

KIẾN PHÁP

Thấy chi trong cõi lụy phiền,
Long lanh biển lệ dưới viền trăng không.
Nổi nênh hư huyễn trần hồng,
Mấy ai tự tại trong vòng nhị phân.
Còn như lấy huyễn làm nhân,
Càng tìm càng vạt gót chân lạc nguồn.
Rã rời trong cuộc tang thương,
Quên đi chân tánh lạc thường do ta.
11.850.  Luân hồi sáu cửa vào ra,
Gió mây rốt lại tan hòa gió mây.
Góp thu huyễn ảnh càng dầy,
Héo khô giữa những vòng vây điệp trùng.
Giờ đàn so lại năm cung,
Đưa nhau ra khỏi những khung buồn phiền.
Lòng thương là cõi thiên tiên,
Trí ngời là sức rồng thiêng bổng vời.
Cõi trần dựng tấn kịch chơi,
Hết tinh tấn diễn, lại rời rã buông.
Hơn nhau chi một vai tuồng,
Hòa hài giữa chốn hí trường sắc danh.

THÍNH PHÁP

Nghe gì trong cuộc đua tranh,
Nấc thang như huyễn mãi đành nhau lên.
Thôi thì, hơn, kém, dưới, trên,
Mãi đem giả tướng chụp lên cõi lòng.
Thế nên mười cõi mênh mông,
Thu vào nhốt kín trong lòng phù vân.
Kết toàn hư ảo làm thân,
Tạo nơi y cứ xoay vần đảo điên.
Gian ngoan buộc oán giăng phiền,
Cũng do tâm bệnh đau rên thành lời.
Ý gieo lại gặt lấy đời,
Nhân nhân quả quả khôn rời trả vay.
Bao nhiêu Bồ-tát xưa nay
Cũng vì nghe thấy đọa đày trần gian.
Phát tâm độ kẻ mê tham,
Đưa người ra khỏi nẻo đàng vọng mê.
Triển khai tự tánh Bồ-đề,
Nguyện vào địa ngục chẳng nề gian nguy.
Nhìn người chỉ thấy trí bi,
Cứu đời chỉ lấy vô vi làm đầu.

DIỆU PHÁP

Như hương thơm tự rừng sâu,
Kể gì ai biết ai cầu mới dâng.
Bước chân tự tại lâng lâng,
Vào ra như thể một vầng mây bay.
Xá nào nam bắc đông tây,
Như mưa nhuần thấm cỏ cây trên rừng
Hòa trong sinh hóa tưng bừng,
Vừa chung muôn loại, vừa từng loài riêng.
Quên mình gieo rắc thiện duyên,
Trăm năm theo trọn lời nguyền thanh cao.
Tùy nơi hóa hiện thân vào,
Lập nên phương tiện khác nào thắng xe.
Qua sông rồi cũng lìa bè,
Chỉ còn bóng mát chở che nhân hoàn.
Lay người tỉnh giấc mê tham,
Dẫn đời thoát ách lầm than bất bình.
Chẳng còn nô lệ giả hình,
Khiến cho muôn loại hồi sinh đại đồng.
Trăm đường hóa độ trần hồng,
Cũng về một biển mênh mông đại từ.

PHÁP TU

Muốn vào dòng sống nhất như,
Dốc lòng theo đấng đạo sư cõi này.
Phải tôn giới luật làm thầy,
Soi theo chánh đạo tìm ngay, lánh tà.
Phá nội chướng, dẹp ngoại ma,
Tạo nên giềng mối hiền hòa thiện duyên.
Nếu như bủa oán giăng phiền
Là còn mắc giữa xích xiềng vô minh.
Chuyên trì giới cấm sát sinh,
Lại đem lòng đến sinh linh mọi loài.
Là tình thương mở tuyệt vời,
Tâm thân là cả cõi trời cao xanh.
Truyền lưu hạt giống đẹp lành.
Hiền hoa giữa chốn chấp tranh hận thù.
Chẳng nề thấm thoát xuân thu,
Tấm thân thường lạc cho dù biển dâu.
Hòa trong cõi sống nhiệm mầu,
Là cây đuốc giữa đêm sâu vô cùng.
Đưa người vào một lòng chung,
Cứu người ra khỏi những khung khổ nàn.

(Mời xem tiếp ở phần 2)


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam