Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 04/05/2010 18:24

Ngày xưa trong ấp bạch mai,
Chủ nhân có một trang đài tiểu thư.
Cẩm Hồng nàng độ đào tơ,
Lầu riêng khép nguyệt nhụy vừa hương bay.
Khi ra khiến bướm vờn say,
Khi vào khiến cả cỏ cây ngẩn lòng.
Tơ duyên đã ướm thôn trong,
Cùng chàng họ Bạch cũng dòng hiền gia.
Tưởng mau sum họp một nhà,
Trai tài gái sắc đậm đà vườn xuân.
Mới hay cuộc thế phù vân
Đổi thay như nắm hồng trần hợp tan.
Ngày sum họp tưởng tấc gang,
Ai ngờ dài mấy năm tràng gió đông.
Tưởng nhà trai nhuộm pháo hồng,
Ai ngờ một sớm đôi vầng khăn sô.
Mẹ cha còn lại hai mồ,
Cảnh nhà còn lại lá khô xạc xào.
Anh em chạy vạy nuôi nhau,
Đói no bữa cháo bữa rau gọi là.
Gia tài còn mỗi mái nhà,
Đêm soi trăng học, ngày ra cuốc vườn.
Riêng nàng thơ thẩn nhớ thương,
Một mình lầu nguyệt vườn hương dãi dầu.
Anh em quấn quýt bên nhau,
Láng giềng thân tộc trước sau mấy người.
Nhà xưa nói nói cười cười,
Bây giờ dế gọi đêm lơi rì rào.
Nhà xưa vâng dạ thưa chào,
Bây giờ lời thấp tiếng cao nọ này.
Thôi thì thù đặt oán bày,
Đã dìm xuống đất, lại dầy bùn đen.
Bạch Hùng bàn với người em:
“Ở nhà sớm tối lửa đèn khói nhang.
Còn anh ra biển buôn vàng,
Ở đây chỉ tổ xóm làng cười chê.
Ba năm tang hết, đã kề,
Còn lo xin cưới chị về sum vui.
Tránh sao miệng thế chê cười,
Phải đành buôn biển kiếm lời ngọc châu.
Chẳng hơn ở mãi bên nhau,
Bát cơm khốn đốn lá rau nhọc nhằn.
Thôi thì thôi vậy cũng đành,
Một đôi chuyến hẳn lời, anh lại về.
Trông nom hai nấm mồ kia,
Khói nhang sớm tối mọi bề cậy em.”
Thế rồi sắm sửa lên thuyền,
Lại sang nhà vợ, nỗi niềm cạn thưa.
Nhạc gia dạy: “có duyên xưa,
Một lời đã hứa, dẫu chờ bao năm.
Chúc con xuôi gió thuận buồm,
Việc nhà đã có ta thường thăm lui.”
Chàng lại dặn vợ bùi ngùi,
Ngổn ngang trăm nỗi, gượng vui kẻo là.
Người chau liễu kẻ rầu hoa,
Áo ai đẫm lệ biết là bao nhiêu.
Nửa năm rong ruổi là nhiều,
Sang xuân anh sẽ có điều cậy thưa.
Thân này nhạt gió nhòa mưa,
Bóng hình em biết bao giờ cho phai.
Cẩm Hồng lệ vắn lệ dài
Tiễn chàng về để sớm mai lên đường.
Gà vừa eo óc canh sương,
Đã đưa anh đến bến trường giang kia.
Dặn dò: thu tới anh về,
Nín đi em, chớ có hề khóc than.
Dùng dằng lệ lại chứa chan,
Nhìn anh dưới cánh buồm vàng nắng tươi.
Dần xa xa khuất chân trời,
Bạch Đàn giờ mới chịu dời gót chân.
Về nhà sau trước buồn tênh,
Thương mình cô quạnh lại phần nhớ anh.
Đêm ngày biếng ngủ lười ăn,
Tháng sau nhuốm bệnh muôn phần nguy cơ.
Nhạc gia đã nhận lời nhờ,
Nỡ nào mặc trẻ bơ vơ một mình.
Đón về săn sóc tận tình,
Lần hồi Đàn mới yên bình như xưa.
Về thì nhà dột phên thưa,
Đành nghe ở lại nương nhờ Mai trang.
Ông cho theo học cùng nàng,
Tiểu Hồng phận chị, Bạch Đàn phận em.
Khi thì đèn sách đua chen,
Khi thì câu cá hái sen vui vầy.
Chị em còn tuổi thơ ngây,
Như đôi chim nhỏ tối ngày tung tăng.
Nhớ anh lòng cũng nguôi dần,
Hạ qua vèo lại tới gần cuối thu.
Bóng anh biển vẫn mịt mù,
Thời gian theo gió vụt vù qua mau.
Hoa thay hoa lại phai màu,
Bến chờ cô quạnh có đâu thuyền về.
Thế rồi ve lại kêu hè,
Thế rồi thu lại rừng hoe lá vàng.
Sông ngoài chỉ thấy chim sang,
Bến xưa lấm tấm đôi hàng hoa thu.
Sông xa khói vẫn mịt mù,
Hỏi chim chim lại cất vù cánh bay.
Bâng khuâng hỏi gió hỏi mây,
Mây im lặng đến họp bầy núi xa.
Thời gian như ngựa vụt qua,
Đoạn tang rồi, cánh buồm xa chửa về.
Dò tin kẻ chợ người quê,
Căng mòn mắt đợi càng nề lòng trông.
Thế rồi mưa giục cành đông,
Xuân thu như vệt khói hồng tan mau.
Mải vui vườn trước đồi sau,
Tình chị em đã nhuốm màu tư riêng.
Bến sông vẫn bặt con thuyền,
Bến lòng đã bặt nỗi niềm đợi trông.
Bóng người khuất tám thu đông,
Chia tay từ độ xuân hồng mười lăm.
Chàng thì chim bóng cá tăm,
Nàng thì mắt vọng xa xăm dõi chờ.
Lẽ nào lệ bạc áo tơ,
Lẽ nào lầu tía hững hờ gió xuân.
Một hôm có khách dừng chân,
Hỏi ra cũng bọn thương nhân biển hồ.
Mới hay cuối sóng bèo xô,
Người xưa thân đã gửi mồ biển xanh.
Khóc anh khăn lệ khôn ngăn,
Mặc người khuyên bảo dỗ răn đủ điều.
Tưởng khi mái dột nhà xiêu,
Đói no ấm lạnh sớm chiều có nhau.
Tưởng ai thưng gạo mớ rau.
Nắng mưa lủi thủi dãi dầu nuôi em.
Tưởng khi chân bước lên thuyền,
Nhìn nhau cười gượng đôi viền lệ rơi.
Những mong buồm thuận gió trời,
Sang thu thuyền lại ghé nơi bến làng.
Xum vầy dưới ánh trăng vàng,
Hái hoa ủ rượu xuân sang tiệc nồng.
Ai ngờ biền biệt thu đông,
Thuyền xưa chẳng lại bến sông bẽ bàng.
Nào hay nước réo mênh mang,
Chiếc thây bèo giạt trên hàng sóng cao.
Ngờ đâu buổi ấy đưa nhau,
Đôi hàng lệ nhỏ là câu tạ từ.
Bao giờ còn có bao giờ,
Gặp nhau hồ dễ trong mơ thoảng về.
Thương anh mặt héo lòng tê,
Đêm về nền cũ ngồi hè trăng soi.
Chiều ra sông đợi mây trời,
Thẩn thờ ngó trước, rã rời ngóng chim.
Tiểu Hồng an ủi ngày đêm,
Rủ đi đây đó hầu quên lần hồi.
Khi ngoài suối, khi đỉnh đồi,
Lửa rơm lần đã thành đôi chẳng lìa.
Thôi thì tóc kết trăng thề,
Thôi thì đợi nguyệt vai kề thềm lan.
Vườn xuân lại trổ hoa vàng,
Chị em giờ đã đổi sang vợ chồng.
Mười năm bến đợi thuyền sông,
Nước xuôi biền biệt nào mong ngày về.
Chẳng đành nghe tiếng chim kia,
Nó kêu như giục xuân thì qua mau.
Cũng là ân trước nghĩa sau,
Duyên anh lại trở qua màu tình em.
Ba năm chăn gối êm đềm,
Ấp mai thêm tiếng trẻ hiền reo vui.
Tưởng rằng ngày tháng trôi xuôi,
Lòng ai liệm chặt bóng người năm xưa.
Nào dè một sớm giăng mưa
Có người thất thểu tìm về thôn mai.
Quần tơi tả, áo sờn vai,
Mắt sâu thăm thẳm thân gầy gầy trơ.
Nhìn nhau chết lặng sững sờ,
Nửa e quáng mắt, nửa ngờ chiêm bao.
Mười năm lạt gấm phai đào,
Mười năm bến nước nhạt màu thời gian.
Tưởng người đáy biển xương tàn,
Bây giờ hiện đến trong màn lệ rơi.
Bạch Hùng kể chuyện chân trời,
Lênh đênh ngọn sóng khôn rời lòng quê.
Thương nàng nến đợi phòng khuê,
Gió hoen lệ thắm, trăng kề buồng đơn.
Lại thương em chốn cô thôn,
Ốm đau khi sớm khi hôm nào chừng.
Xóm giềng nước lã người dưng,
Biết ai thuốc sắc cháo bưng cậy nhờ.
Cũng mong sớm trở làng xưa,
Ai ngờ một buổi gió mưa đọa đày.
Bốn bề gió vặn sóng vây,
Thuyền chìm, nào biết gió mây vật vờ.
Ngất đi nào biết bao giờ,
Tỉnh ra đã thấy dạt bờ biển nao.
Quanh mình tiếng nói xôn xao,
Thổ dân sau mới khiêng vào nhà tranh.
Đôi ngày rau trái tỉnh dần,
Có đi mới biết đường trần bao la.
Đảo này ở giữa Ấn hà,
Bốn phương mờ mịt quê nhà phương nao.
Lâu lâu mới một thuyền vào
Đổi vàng kiếm gạo, dân nào lạ đâu.
Thế rồi ngày tháng qua mau,
Xuân thu tưởng đã bạc đầu nơi đây.
Nhớ nàng lòng vẫn chưa khuây,
Quyết lòng đạp sóng biển này mà đi.
Tử sinh thì có tiếc chi,
Đóng bè vượt biển theo vì sao lơi.
Gian nan kể mấy tháng trời,
Bao lần tưởng đã trút hơi thở tàn.
Dập dềnh giữa biển mênh mang,
Một chiều thấy cánh buồm vàng phương xa.
Lòng như xuân lại bừng hoa,
Vẫy áo ra hiệu, gào la gọi thuyền.
Buồm xa dường biết lại gần,
Lệ khô giờ cũng hoen ngần mắt sâu.
Cố hương mờ mịt nơi đâu
Bỗng nhiên hiện rõ trong đầu tấc gang.
Tưởng trông nàng biếng điểm trang,
Tưởng gặp em dại võ vàng chờ mong.
Tưởng đời lại trổ màu hồng,
Mà nghe máu chuyển tim lồng ngực va.
Trong anh hình bóng quê nhà
Dường như một lúc hiện ra rành rành.
Nhấp nhô sau đợt sóng xanh,
Thuyền xa đã thấy đôi mành hiện lên.
Nỗi mừng như dại như điên,
Tưởng như đang ở đất liền quê hương.
Nghĩ mình gửi xác trùng dương,
Ai ngờ thần thánh còn thương đón về.
Nhưng khi thuyền nọ vừa kề
Cứu lên, như giữa cơn mê điếng hồn.
Quanh thuyền treo mấy khung xương,
Trên sàn trực sẵn những phường đầu trâu.
Nghe đồn giặc biển đã lâu,
Moi gan uống máu khác đâu thú rừng.
Bây giờ thôi hết cầu mong,
Thế thôi, đành cũng cho xong kiếp người.
Trói vào tra khảo một hơi,
Ngất đi còn biết đất trời là đâu.
Tỉnh dần giữa một hầm sâu,
Sờ quanh gầm một thân tàu đong đưa.
Kêu trời trời thấu cho chưa,
Tưởng rằng lối thoát ai ngờ đường ma.
Góc hầm hoảng tiếng rên la,
Hỏi xem mới biết cùng là tù nhân.
Gã kể sau trận cướp thuyền,
Bao nhiêu hàng họ bạc tiền sạch không.
Bây giờ giữa chốn lao lung,
Nào hay trời đất vô cùng là đâu.
Trong tay bọn quỉ ngựa trâu,
Kể như xác đã vùi sâu đáy mồ.
Thế rồi hai kẻ thân cô,
Ngày ngày được chút cơm thừa cá ôi.
Tưởng rằng đời đến thế thôi,
Một hôm lại vẳng tiếng cười xôn xao.
Hẳn thuyền đang ghé bến nào,
Giờ lâu có một tên vào dắt lên.
Thấy toàn giáo mác cung tên,
Mới hay ghé đến một miền đảo xa.
Người gì như quỉ như ma,
Vây quanh đống lửa thét la rợn người.
Bọn ta được dẫn tới nơi
Làm hàng đổi chác kiếm lời vàng châu.
Cuộc đời còn tiếc chi đâu,
Bưng tai nhắm mắt cúi đầu lê chân.
Cầm bằng cái chết đã gần,
Tử sinh ai chẳng một lần mà thôi.
Chờ cho bọn cướp đi rồi,
Bây giờ dân đảo mới lôi ta vào.
Chung quanh đống lửa chất cao,
Ngả nghiêng cười nói, lao xao hét hò.
Chừng như sợ quá hết lo,
Bạn ta ngỏ ý bày trò làm vui.
Giở tài ảo thuật lừa người,
Khiến cho cả bọn nói cười bặt yên.
Hẳn tưởng phù phép thần tiên,
Bấy giờ chúa đảo đứng lên dấu mời.
Thổ dân quì mọp quanh người,
Rồi đưa ta đến lưng đồi xanh cao.
Tưởng rằng loé mắt chiêm bao,
Giữa đền châu ngọc như hào quang soi.
Thờ thần đầu thú mặt người,
Chung quanh ngọc điểm hoa tươi rỡ ràng.
Mọi người đốt đuốc hát vang,
Bạn ta ngồi chiếc đôn vàng tôn phong.
Lễ mừng sùng bái đã xong,
Hai ta làm chủ đền thần từ đây.
Tưởng rằng hầm tối chôn thây,
Ai ngờ lạc đến đảo này là đâu.
Nhưng dù trên đống vàng châu,
Mà lòng nhớ bữa cơm rau quê nhà.
Đêm đêm gối lệ dầm sa,
Nhìn mây bay tưởng mây qua xóm nào.
Chỉ mong là giấc chiêm bao,
Tỉnh ra lại thấy tre cao bóng dài.
Nhưng rồi tiếng sóng reo ngoài,
Nhắc chi gối lệ ai hoài chứa chan.
Bàn nhau đem chút hơi tàn,
Quyết tìm cho được con đàng vượt qua.
Đói no ở chốn quê nhà
Còn hơn châu báu biết là mấy mươi.
Quẩn quanh thoảng đã năm trời,
Một chiều nhác thấy buồm dơi ghé ngoài.
Mừng mừng tủi tủi nghẹn lời,
Bõ khi đất khách trông vời cố hương.
10.300.  Trốn đi theo bọn khách thương,
Lênh đênh cưỡi sóng trùng dương trở về.
Phen này quyết ở lại quê,
Ối thôi, vàng ngọc chẳng hề vấn vương.
Tháng ngày rong ruổi tàu buôn,
Cuối năm qua đến nam phương cập bờ.
Chia tay hai kẻ lệ mờ,
Bắc Nam rồi biết bao giờ gặp nhau.
Anh còn một hạt trân châu,
Bán đi, sắm sửa hôm sau lên đường.
Vượt qua muôn vạn dặm trường,
Bao nhiêu thành lũy biên cương chẳng nề.
Chỉ mong thấy lũy tre quê,
Thấy nàng cắt tóc trao thề dưới trăng.
Nói rồi, tiến lại xăm xăm,
Bạch Hùng ôm chặt Cẩm Hồng trong tay.
Bốn hàng lệ chảy dầm vai,
Rằng Hùng nhớ ánh mắt ai dõi chờ.
Nên khi giữa biển bơ vơ,
Mắt kia giục kiếp sống thừa gắng qua.
Bỗng dưng Đàn bước vào nhà,
Thấy chồng, vội đẩy Hùng ra, khóc ròng.
Người anh ngoái lại thấy em,
Sự tình chợt hiểu cớ duyên thế nào.
Vì ta nàng mới phai đào,
Mười năm chẳng lẽ ra vào đợi trông.
Hùng bưng mặt chạy ra sông,
Thôi thì gửi nắm bụi hồng đất quê.
Đàn giờ đã rõ ai kia,
Tỉnh ra, mới đuổi theo kề gọi vang.
Người anh đến bến đò ngang,
Bến xưa vẫn cội hoa vàng hắt hiu.
Đã nghe em gọi kề theo,
Quay nhìn lần chót, thân gieo xuống dòng.
Ầm ầm nước réo mênh mông,
Bạch Đàn nhảy vội xuống sông cứu người.
Cẩm Hồng cũng kịp tới nơi,
Ôi thôi, người lại theo người ra đi.
Sóng dâng từng cuộn xanh rì,
Dưới làn nước bạc còn chi mà tìm.
Người người tới kịp ngăn xin,
Nàng toan đem ngọc gieo trên sóng dài.
Chợt nghe tiếng hót bên tai,
Con chim xanh đậu trên vai lúc nào.
Tiếng nghe tha thiết nghẹn ngào,
Dường hồn chàng đã nhập vào cánh chim.
Thế rồi bay lượn vòng lên,
Đậu cành hoa nọ dõi tìm trên sông.
Người dìu nàng lại thôn Đông,
Lặng nhìn con ngủ bềnh bồng nôi chao.
Lại nghe tiếng hót chim nào,
Thì ra, chàng đã bay vào đậu bên.
Vẻ đang giỗ giấc cho hiền,
Lại như an ủi sầu miên lòng người.
Ngước lên nhìn áng mây trời,
Rồi bay mất hút giữa nơi hoa ngàn.
Lòng Hồng sầu hận chứa chan,
Tình ơi nửa giấc mơ vàng đã bay.
Thế rồi năm chóng tháng chầy,
Thương ai cây cỏ cũng gầy xót xa.
Mặc người cợt liễu cười hoa,
Bồng con thơ dại vào ra một mình.
Khi đêm thấp thoáng lửa huỳnh,
Ầu ơ hát khúc ân tình, chợt đau.
Lại khi tưới cải vườn sau,
Hoàng hôn vàng vọt thêm sầu áo ai.
Khi buồn ngó chiếc sao mai,
Chim bay mấy thuở đợi hoài chưa sang.
Một chiều theo áng mây vàng,
Trên không xao xác một hàng chim lơi.
Nghiêng nghiêng đậu xuống bên người,
Một con ngậm cánh sen tươi trao nàng.
Cánh hoa như thể nhung vàng,
Chữ ai thảo sẵn một hàng Phật danh.
Chàng cho, đây hẳn duyên lành,
Nàng từng nghe ở bên thành, rừng lê.
Có Phật dạy đạo Bồ-đề,
Ngày mai nàng quyết theo về trú nương.
Sáng sau bồng bế lên đường,
Bước chân thẳng đến rừng hương đại từ.
Ngõ vào hoa mái hoa mơ,
Gặp Phật đang đứng bên bờ suối xanh.
Đã nghe sầu hận tan tành,
Chắp tay lễ đấng Cha lành nhân thiên.
Phật truyền: “kiếp mộng triền miên
Như tơ giăng mắc mối duyên trùng trùng.
Trả vay mãi cuộc trần hồng,
Đắp thêm hư ngụy muôn vòng chiêm bao.
Muộn phiền chất mãi non cao,
Trăm năm rồi cũng tan vào cỏ hoa.
Ngày nay vượt sóng mê hà,
Như sen nở giữa Ta-bà tuyết băng.
Muôn thu rực rỡ viền trăng,
Trí bi là đạo thường hằng sáng soi.”

Lần hồi hoa tiếp hoa tươi,
Cửa thiền thanh tĩnh có người nữ tu.
Một đêm ven suối trầm tư,
Cánh chim soi nước hiền từ đậu bên.
Dòng xuân ngâm mảnh trăng liềm,
Chợt đâu cá đớp bóng hiền ni cô.
10.400.  Nước xuôi xuôi mãi bao giờ,
Cho con chim đợi bên bờ ngó theo.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam