Nhữ Bá Sĩ 汝伯仕 (1788-1867) tự Nguyên Lập 元立, hiệu Đạm Trai 澹齋, là quan triều Nguyễn, người thôn Cát, xã Cát Xuyên, tổng Dương Thuỷ, huyện Mỹ Hoá, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nay thuộc xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ông sinh năm Chiêu Thống thứ 2 (1788) đời Hậu Lê, năm Minh Mạng thứ 2 (1821) dự khoa thi hương tại trường Thanh Hoa và đỗ hương cống. Ban đầu ông được bổ làm Tri huyện Tiên Lữ, sau nhiều lần thăng chức đến Viên ngoại lang Bộ Hình. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), ông được thăng Thự Lang trung, sai đi giám sát thuế đường tại tỉnh Quảng Ngãi. Do vướng việc, ông bị cách chức, điều sang Quảng Đông để hiệu lực. Sau đó được phục chức làm Kiểm thảo, kiêm Huấn đạo huyện An Lạc, rồi thăng Giáo thụ phủ Hoài Đức, gia hàm Tu soạn Hàn Lâm viện, nhưng vì bệnh nên xin rời chức. Đầu niên hiệu Tự Đức, triều đình nhiều lần triệu ông ra làm việc trở lại, nhưng ông đều lấy cớ bệnh tật mà từ chối. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), ông được giao biên soạn Thanh Hoá tỉnh chí, năm sau (1853) được thăng làm Trước tác, kiêm Đốc học Thanh Hoá, rồi lại xin cáo quan về quê. Ở nhà, Nhữ Bá Sĩ vẫn luôn quan tâm đến thời cuộc, nhiều lần dâng mật sớ lên vua Tự Đức, được nhà vua khen ngợi, cho phép ông cùng các đại thần hai tỉnh Thanh và Nghệ bàn bạc việc công. Năm Tự Đức thứ 20 (1867), Nhữ Bá Sĩ qua đời vì bệnh, thọ 80 tuổi.
Nhữ Bá Sĩ để lại các tác phẩm: Việt sử tam bách vịnh 越史三百詠, Phi điểu nguyên âm 飛鳥元音, Việt hành tạp thảo 粵行雜草, Đạm Trai chủ nhân văn tập 澹齋主人文集, Đạm Trai thi khoá 澹齋詩課, Đạm Trai thi văn tập 澹齋詩文集, Đạm Trai áp tuyển tập 澹齋壓線集, Đại học đồ thuyết 大學圖說, Thanh Hoá tỉnh chí 清化省志, Nghi Am hàn hương 沂菴翰香, Đạm Trai quan nghi 澹齋冠儀, Nghi Am biệt lục 沂菴別錄.
Nhữ Bá Sĩ 汝伯仕 (1788-1867) tự Nguyên Lập 元立, hiệu Đạm Trai 澹齋, là quan triều Nguyễn, người thôn Cát, xã Cát Xuyên, tổng Dương Thuỷ, huyện Mỹ Hoá, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nay thuộc xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ông sinh năm Chiêu Thống thứ 2 (1788) đời Hậu Lê, năm Minh Mạng thứ 2 (1821) dự khoa thi hương tại trường Thanh Hoa và đỗ hương cống. Ban đầu ông được bổ làm Tri huyện Tiên Lữ, sau nhiều lần thăng chức đến Viên ngoại lang Bộ Hình. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), ông được thăng Thự Lang trung, sai đi giám sát thuế đường tại tỉnh Quảng Ngãi. Do vướng việc, ông bị cách chức, điều sang Quảng Đông để hiệu lực. Sau đó được phục chức làm Kiểm thảo, kiêm Huấn đạo huyện An Lạc, rồi thăng Giáo thụ phủ Hoài Đức, gia hàm Tu soạn Hàn Lâm viện, nhưng vì bệnh nên xin rời chức. Đầu…
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.