Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại
Từ khoá: Thủ Thiêm (1)

Đăng bởi tôn tiền tử vào 05/08/2020 22:32

(Để dâng tặng những bậc tiền nhân và những chiến sĩ vô danh đã đứng chống xâm lăng giữ gìn quốc gia dân tộc)

Thủa ấy anh là trai Bến Nghé,
Chăn trâu cắt cỏ xứ quê hiền.
Em là cô lái đò quê mẹ,
Nối nhịp cầu đôi bến Thủ Thiêm.

Giữa đêm mưa gió, trời giông bão,
Em quạt lửa lò hơ áo anh.
Tình chớm nở trong khoang đò nhỏ,
Lửa lò nhen nhúm mối duyên lành.

Bên ánh lửa lò, em gởi tặng
Hột tinh anh: hột bắp Biên Hoà.
Em gieo bắp giống trong lòng đất
Khi bắp trổ cờ, tình nở hoa.

Nước ròng trong ngọn chảy ra,
Tình ta như đất phù sa quyện bờ.

Nhưng...
“Từ ngày quân Pháp kéo vô,
Nó giăng dây thép hoạ địa đồ nước Nam.”
Sóng tàu đục nước trường giang.
Chân trời Bến Nghé phủ giăng mây mờ.
“Ai tham đồng bạc Con Cò
Bỏ cha bỏ mẹ theo phò Lang Sa.”
Khi đàn cò trắng bay qua,
Đoàn người cắt cỏ đi xa tìm đồng.
Con cò nằm mỏi bên sông,
Trăng treo sào gãy, lặn trong khoang đò.
Bến sông đã tắt lửa lò,
Buồn thay là những chuyến đò tản cư.

Em còn nhớ đêm trăng vừa mọc,
Trăng mới mồng ba bén lưỡi liềm.
Em tiễn anh qua đò cứu nước,
Hẹn ngày quang đãng mới xe duyên.
Từ đây em khép lòng thôn nữ
Neo đò căm hận bến Thủ Thiêm,
Trong khi phường cướp nước cuồng điên,
Vò nát muôn hoa hồng trinh nữ.
Khi nút rượu “sâm banh” vừa nổ
Là tan nát đời hoa... mới nở
Súng gầm xao động nước trường giang,
Tóc xoã dài rũ rượi mảnh khăn tang
Rượu và máu chảy dài theo sợi tóc.
Còn đâu nữa hơi dừa dầu thơm phức,
U tóc huyền cô gái quê hương.

Giặc vào... lở bến trường giang,
Con đò chở xác ngập khoang hận thù.
Bắp non vẫn nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.

Nhưng vì đất nước và quê mẹ
Vì quê chồng... bờ bến Thủ Thiêm
Em đành ưng tên giặc cuồng điên.
......................................
Nhưng áo cưới phất cao cờ lịnh,
Trái bắp non bỗng hoá trái Lưu Cầu.
Đầu giặc rơi xây núi giữa cầu tàu
Lửa thuỷ công thay ngọn đèn hoa chúc.
Nhưng sau trận chiến... binh lửa tắt
Con đò cảm lạnh bến bờ xưa
Ai gọi đò?... nhưng cô lái thôi đưa
Bông gòn rơi trắng khăn sô,
Khóc cô lái đã xây mồ đáy sông.

Trên bến cũ, giặc xây phòng tuyến
Người qua đò đi giữa gai chông
Con đò đổi ván thay cong
Thay tình bờ bến, đổi lòng đò đưa.
Đò nay là gái giang hồ
Không đưa khách, chỉ mong chờ bướm ong.
Con đò chỉ đậu giữa sông,
Để cho ong bướm đậu trong khoang đò.
Bắp non thôi nướng lửa lò,
Nhuốc nhơ thay những chuyến đò truy hoan.

Rồi đêm trăng mồng ba vừa mọc,
Anh trở về Bến Nghé Thủ Thiêm,
Khoát nước sông giũ tà áo bụi
Bên sông cất tiếng gọi đò thêm:
“Hỡi cô lái đò bến Thủ Thiêm,
Cố nhân nay đã về tìm cố nhân.”
Thế rồi một giọng hò khoan
Từ trong đáy nước vang ngân lên trời:
“Đò xưa đã nát ván rồi
Mà cô gái vẫn khóc người chinh phu.”

Lần thứ nhứt chàng trai Bến Nghé
Nâng khăn lau giọt lệ đầu tiên.
Nhưng vì khói súng còn nghi ngút,
Chàng phải lìa xa bến Thủ Thiêm.

Từ đây trong khói sương đêm,
Con đò ma vẫn cất lên giọng hò:
“Bắp non vẫn nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.”


Gia Định, 11-6-1958

Lời dẫn:
Chừng nào Chợ Lớn hết vôi
Nước Nam hết giặc em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.

Đó là mấy câu ca dao được phổ truyền sâu rộng trong dân gian khi Pháp vừa chiếm Sài Gòn - sau hiệp ước năm Nhâm Tuất (5-6-1862) - nói lên tấm lòng yêu nước và lòng chung thuỷ của cô lái đò với quốc gia và người chồng sắp cưới.

Cô lái đò Thủ Thiêm đã xây mồ ở đáy sông Đồng Nai nhưng ngày sau vẫn còn khắc đậm hình ảnh và ghi sâu tấm lòng yêu nước của “con đò Thủ Thiêm” bằng mấy câu hát bình dân.

Sự tích trên đây đã được dựng thành soạn phẩm sân khấu.
Nguồn: Phạm Thanh, Thi nhân Việt Nam hiện đại (quyển hạ), NXB Xuân Thu tái bản, 1990