亂時

天地風塵
紅顏多屯
悠悠彼蒼兮誰造因
鼓鼙聲動長城月
烽火影照甘泉雲
九重按劍起當席
半夜飛檄傳將軍
清平三百年天下
從此戎衣屬武臣
使星天門催曉發
行人重法輕離別
弓箭兮在腰
妻孥兮別袂
獵獵旌旗兮出塞愁
喧喧簫鼓兮辭家怨
有怨兮分攜
有愁兮契闊
良人二十吳門豪
投筆硯兮事弓刀
直把連城獻明聖
願將尺劍斬天驕
丈夫千里志馬革
泰山一擲輕鴻毛
便辭閨閫從征戰
西風鳴鞭出渭橋

 

Loạn thời

1. Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân
Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt
5. Phong hoả ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Thanh bình tam bách niên thiên hạ
Tùng thử nhung y thuộc vũ thần
10. Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát
Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt
Cung tiễn hề tại yêu
Thê noa hề biệt khuyết
Liệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu
15. Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán
Hữu oán hề phân huề
Hữu sầu hề khế khoát
Lương nhân nhị thập Ngô môn hào
Đầu bút nghiên hề sự cung đao
20. Trực bả liên thành hiến minh thánh
Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu
Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến
25. Tây phong minh tiên xuất Vị kiều

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đoàn Thị Điểm

1. Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
5. Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín lần gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
Nước thanh bình ba trăm năm cũ
10. Áo nhung trao quan vũ từ đây
Sứ trời sớm giục đường mây
Phép công là trọng niềm tây sá nào
Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
15. Bóng cờ tiếng trống xa xa
Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong hiến bệ rồng
20. Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu


Nguồn: Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm diễn ca, Nxb Văn học, 2007
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
44.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cù An Hưng

1. Nổi cơn gió bụi một thời
Khiến hồng nhan nếm vị đời gian truân
Trời cao xanh biết hay chăng
Bỗng dưng thế sự xoay vần, vì đâu
5. Trống Tràng thành, bóng Nguyệt chao
Lửa đài bừng chiếu mây cao Cam Tuyền
Quân vương án kiếm ngay đêm
Canh khuya vời tướng, hịch truyền điểm binh
Ba trăm năm hưởng thái bình
10. Võ quan nay khoác lên mình chiến y
Sứ trời sớm giục ra đi
Non sông đã gọi, sá gì tình riêng
Ngang lưng đầy đủ cung tên
Vợ con bịn rịn tiễn bên cạnh đường
15. Cờ bay, sầu phủ ải quan
Lìa nhà trống thúc, oán lan khuê phòng
Chia nhau nỗi oán hờn chung
Mối sầu ngậm nghẹn trong lòng mà thôi
Dòng danh tướng tuổi đôi mươi
20. Chàng quăng nghiên bút trọng đời kiếm cung
Hạ liên thành hiến bệ rồng
Tuốt gươm đuổi giặc khỏi vùng biên cương
Chí trai: da ngựa sa trường
Thái sơn thân nặng coi thường như không
25. Chàng đi, vắng lạnh khuê phòng
Thét roi cầu Vị mịt mùng gió thu

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
13.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Dịch nghĩa và Chú thích chữ Hán

Chinh phụ ngâm khúc
Đặng Trần Côn

Thưa các bạn yêu thích, Chinh phụ ngâm được sáng tác theo thể Cổ Nhạc phủ, dùng cốt truyện đời Hán Trung quốc, nhưng thời gian, không gian không xác định cụ thể, dùng nhiều điển tích đời Hán, thơ ca đời Đường, gọi là tập cú, tập ý; nhưng toàn bộ tác phẩm có cấu trúc thống nhất, hoàn chỉnh và hàm súc.
Để bạn đọc hiểu thêm câu chữ Hán, xin bổ sung dịch nghĩa, giải thích thơ ca, tài liệu nguồn có liên quan; chứ không dám khẳng định đấy là điển tích mà Đặng Trần Côn đã bị ảnh hưởng.
Tài liệu tham khảo chủ yếu:
Tổng tập Văn học Việt nam tập 13B - Nguyễn Quảng Tuân.
Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải Nguyễn Đỗ mục, in năm 1929;
Chinh phụ ngâm khúc Vân Bình Tôn Thất Lương in năm 1950.
Những đoạn có có quan hệ đến bản diên Nôm, có thêm chú thích.
Xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp cho tài liệu tốt hơn.

征 婦 吟 曲
Khúc ngâm của người có chồng ra trận
Chinh 征: Đi xa; Ra trận (gọi tắt của chinh chiến, chinh phạt).
Phụ 婦: Người vợ; Đàn bà.

1- Trời đất nổi cơn gió bụi, đất nước có chiến tranh,  loạn lạc.
Phong trần 風 塵: gió bụi. Dùng để chỉ cảnh chiến tranh hoặc đời kỹ nữ.

2- Cho nên phụ nữ phải chịu nhiều vất vả  gian lao.
Hồng nhan 紅顏 : khuôn mặt đỏ đẹp; chỉ phụ nữ.
Truân, Truân chiên  迍, 屯邅 : chật vật, gian nan

3- Trời xanh thăm thẳm kia  vì ai tạo nên cơ sự này.
Thương: Xanh, Trời xanh, Ông Trời.
Kinh Thi- Vương phong- Thử ly có câu: 悠悠蒼天,此何人哉
Du du thương thiên, thử hà nhân tai (Hỡi trời xanh thăm thẳm kia, Người đã khiến ra như vậy chăng ? )

Câu này được diễn Nôm bằng 2 câu:
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Ví ai gây dựng cho nên nỗi này

4- Tiếng trống ở Trường thành vang động  ánh trăng
Cổ bề 鼓鼙 : trống trận (nói chung).Cổ : trống; Bề: Trống dùng cho kỵ binh (Thuyết văn).
Trong văn thơ cổ, nhất là trong thơ Biên tái, Đường thi, nhiều bài dùng hình ảnh trống trận Cổ bề .  
Lư Luân có câu: 更堪江上鼓鼙聲 Cánh kham giang thượng cổ bề thanh (Trên sông vẫn phải nghe tiếng trống trận)- Vãn thứ Ngạc châu.
Lệnh Hồ Sở có câu: 何時罷鼓鼙 Hà thời bãi cổ bề (Bao giờ thì ngưng tiếng trống trận). Tòng quân hành.
Trường thành: công trình được xây đắp từ thời Chiến quốc, nhằm ngăn chặn các cuộc xâm lấn của người Hồ vào các nước Yên, Triệu, Tần. Đời Tần Thủy hoàng, và các đời sau đều tu bổ và xây đắp nối tiếp  để bảo vệ phía bắc, kéo dài 5440 dặm từ Hà Bắc, đến Cam Túc, TQ, được gọi là  Vạn lý Trường thành. Ngày nay, nhiều đoạn vẫn còn nguyên vẹn.

5- Ngọn lửa báo có giặc hắt sáng  vào đám  mây ở  Cam tuyền
Phong hỏa: 烽火 Lửa đốt báo hiệu có giặc, được bố trí ở các điểm cao dọc theo Trường thành, có khói màu vàng là do trộn thêm với phân chó sói.
Lý Bạch có câu: 秦家築城避胡處, 漢家還有烽火然 Tần gia trúc thành bị Hồ xứ, Hán gia hoàn hữu phong hỏa nhiên (Nhà Tần xây thành phòng bị giặc Hồ, Nhà Hán đốt lửa báo động còn cháy rực) – Chiến thành nam.
Lý Bạch  lại có câu: 烽火動沙漠, 連照甘泉雲… Phong hỏa động sa mạc, Liên chiếu Cam tuyền vân. – Tái hạ khúc.
Cam tuyền, hoặc Cam tuyền tiền điện: Tên một cung điện nhà Tần. (Thời Tần Thủy hoàng, trong vòng 200 dặm xung quanh Kinh đô Hàm dương, xây dựng 270 cung điện, trong đó,  nổi tiếng  là A Phòng, Kiến Tín, Cam tuyền – theo Bách khoa thư Văn học Cổ điển TQ)

6- Ở chốn Cửu trùng (Nhà Vua) nổi giận chống kiếm đứng dậy.
Cửu trùng 九重: Trời chín tầng  cao; hoặc chỉ nơi vua ở; hoặc để gọi nhà vua, có thể dùng như Danh từ, nghĩa là Trời hoặc Nhà vua hoặc Nơi nhà vua ở.  
Chín trùng và Chín lần vốn là số từ thuần tuý.

Lý Bạch có câu: 漢皇按劍起 Hán hoàng án kiếm khởi (Vua Hán chống kiếm đứng dậy). Cửu trùng có nghĩa tương đương với Hán hoàng. Thậm chí, có người tự xưng Cửu Trùng như danh từ riêng:
范长生(?—318)十六国时, 涪陵丹興 人.一名延久,又名九重
Phạm Trường Sinh, Thập lục quốc thời, Phù lăng, Đan Hưng nhân, nhất danh Diên Cửu, hựu danh Cửu Trùng (TĐ Từ Hải)
(Thời Thập lục quốc, có Phạm Trường Sinh, người ở đất Phù lăng, Đan Hưng, xưng danh là Diên Cửu, là Cửu Trùng)
Tịch 席: Cái chiếu, Chỗ ngồi. Chủ tịch: Vị trí ngồi của người chủ.

7- Nửa đêm gửi “hịch” nhanh chóng truyền cho  Tướng quân.
Hịch 檄: Bản ghi lời của vua, quan truyền cho cấp dưới.
Cùng với câu trên, đọc cả 2 câu của Lý Bạch: 漢皇按劍起, 還召李將軍 Hán hoàng án kiếm khởi, Hoàn triệu Lý tướng quân (Vua Hán chống kiếm đứng dậy, ban chiếu cho gọi Tướng quân họ Lý ) – Tái hạ khúc
Nhiều sách dẫn, Lý Tướng quân tức Lý Quảng. Lý  Quảng  là tướng giỏi, hơn 40 năm dưới 3 triều nhà Tây Hán (Văn đế, Cảnh đế và Vũ đế ) được trọng dụng, do rất giỏi cung tên và ngựa, chuyên được phái đi đánh Hung nô. Các con của Quảng cũng làm tướng.(theo Sử ký – Tư Mã Thiên). Tái hạ khúc cũng là vậy.
Nhưng trong CPN, không chỉ đích danh Tướng quân, vả lại không gian, thời gian không cụ thể, nên không dám tùy tiện gán ghép.

8- Thiên hạ thái bình đã được ba trăm năm
Thiên hạ thái bình 300 năm là cách nói của tác giả.
Trong Sử Trung quốc và Sử Việt nam khó tìm được giai đoạn 300 năm này. Có chăng, chỉ nói riêng nơi cung cấm.
Thiên hạ 天下: dưới gầm trời; chỉ cuộc sống con người trong xã hội.

9- Từ đây chiến bào lại giao cho quan võ trong triều.
Nhung戎: quân đội (Thuyết văn).
Kinh thi có câu: 修爾車馬,弓矢戎兵? Tu nhĩ xa mã, Cung thỉ nhung binh (Hãy tề chỉnh ngựa xe , Và cung tên binh lính) Ức – Đại nhã .
Nhung y: áo giáp ra trận.
Vũ thần: quan về hàng võ.

10- .Sứ giả từ Cung Vua mang lệnh đến giục đi sớm
Sứ tinh 使星:Ngôi sao là sứ của trời; hoặc sứ của nhà vua.
Điển tích: Vua Hán Hòa đế ngầm sai 2 Sứ giả đến Ích châu do thám Lý Cáp (Trấp). Cáp phát hiện ra vì thấy “có 2 Sứ tinh trên trời đi về địa phận Ích châu”, biết được có sứ giả đến.
Thiên môn: cửa trời; hoặc triều đình.

11- .Người ra đi coi trọng phép Vua mà xem thường nỗi ly biệt

12- Cung  tên mang bên lưng.
Cung tiễn: cung tên.
Đỗ Phủ có câu: 行人弓箭各在腰,耶娘妻子走相送 Hành nhân cung tiễn các tại yêu, Gia nương thê tử tẩu tương tống (Người đi lưng đeo cung tên, Cha mẹ, vợ con chạy theo tiễn)– Binh xa hành

13- Từ  biệt vợ con
Thê noa: 妻孥 vợ con.
Khuyết袂 tay áo.  
袂 còn phiên âm là Duệ, Mệ, cùng nghĩa; Phân mệ 分袂 là chia tay.

14- Lại càng sầu khi trông cờ phấp phới của đoàn quân ra cửa ải,  .
Lạp (Liệp):獵 Săn bắt; Thợ săn. Lạp lạp獵獵: Phấp phới
Tinh 旌: Đuôi bò tót cắm trên xe làm hiệu. Tinh kỳ 旌旗: cờ có cắm lông vũ.  
Tái塞 hoặc Biên tái 邊塞: biên giới vùng núi.
Đời Đường hình thành trường phái Thơ Biên tái (Thơ ngoài biên ải),  biểu đạt ý chí giết giặc lập công báo nước và miêu tả nỗi thống khổ của người ngoài chiến trận và cảnh chia ly. Nhiều người vừa chiến đấu vừa làm thơ. Tiêu biểu là Sầm Tham, Cao thích; Lý Bạch có 6 bài Tái hạ khúc (Khúc hát dưới ải).

15- Tiếng  tiêu,  tiếng trống rộn ràng lúc từ biệt,  lại càng oán cho cảnh gia đình.
Tiêu cổ: 簫鼓: Tiêu và trống, hai nhạc cụ của quân đội xưa kia.
Đỗ Phủ có câu: 簫鼓哀吟感鬼 Tiêu cổ ai ngâm cảm quỷ thần (Tiếng sáo, tiếng trống rền rĩ xúc động cả quỷ thần) – Lệ nhân hành.

16- Dù có  oán, cũng phải chia tay nhau

17- Dù có sầu,  cũng phải xa nhau.
Chữ 契 có nhiều cách đọc và nghĩa cũng khác nghĩa:
1) Khiết khoát 契 闊 :  Xa cách.
Kinh thi có câu: 死生契闊,與子成說 Tử sinh khiết khoát, dữ tử thành thuyết - Sống chết hay xa cách, Đã cùng nàng có lời (thề ước). Bội phong - Kích cổ –KT1, tr137 (Nỗi lòng người lính xa nhà).
Câu trên dùng theo nghĩa này.
2) Khế 契 (qì) (trong Khế ước, văn tự để làm tin). Nhiều bản phiên âm là Khế khoát, thì không phải là Xa cách.

4 câu H 14+15+16+17 được diễn Nôm bằng 2 câu:
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

Từ câu sau, nhiều nhà nghiên cứu xếp  vào chương Thân thế và Chia tay
_
Hà Như biên soạn

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Chinh phụ ngâm - Dịch nghĩa và chú thích chữ Hán.

18- Chồng ta hai mươi tuổi, vốn dòng hào kiệt ở Ngô môn
(*)  Ngô môn: Cửa thành ở Tô châu, Giang Tô, nơi có miếu thờ Ngô Thái Bá.
Tư liệu trích dẫn:
1) NXB Cổ tịch Thượng Hải chú thích cho bài Xương môn tức sự của Trương Kế: 試上吳門窺郡郭 Thí thượng Ngô môn khuy quận quách, (Thử lên cửa Ngô Môn mà nhìn ra xung quanh), cho biết Ngô môn là cửa phía tây thành Tô châu, còn gọi là Xương môn.
2) Dòng dõi Ngô vương:
Sử ký viết: 吳,古国名,始祖是周太王之子太伯,仲雍,有今江苏.
Ngô, cổ quốc danh, thủy tổ thị Chu Thái vương chi tử Thái Bá, Trọng Ung, hữu kim Giang Tô.(Ngô là tên nước ngày xưa,  Ông tổ là Thái Bá, Trọng Ung con của Chu Thái vương, nay có tên là Giang Tô.
Ngô Thái Bá, hiệu Câu Ngô, con của Chu Thái vương (đời Thương), bác của Chu Văn vương, nhường ngôi cho em, cùng Trọng Ung về phương nam, trở thành Ông tổ nước Ngô, không xưng Vương, chỉ xưng Bá (theo SK, Khang Hy, Từ Hải và Kim Sơn TĐ).
Qua nhiều thời, Ngô môn đều có hào kiệt.
3) Đỗ Phủ có câu:嵯峨閶門北, 清廟映回塘. 每趨吳太伯, 撫事淚浪浪: Sa nga Xương môn bắc, Thanh miếu ánh hồi đường. Mỗi xu Ngô Thái bá, Phủ sự lệ lang lang. (Phía bắc cửa Xương môn cao vòi vọi, Tòa thanh miếu vẫn soi bóng xuống đường hào. Mỗi lần đến chiêm ngưỡng Ngô Thái Bá, Ôn lại việc xưa, giọt lệ dạt dào – Tráng du).

4) Lý Bạch có câu: 燕南壯士吳門豪 Yên Nam tráng sĩ Ngô môn hào (Tráng sĩ đất Yên nam, Hào kiệt ở Ngô môn - Kết vạt tử,  結襪子)
5) Có tài liệu chú thích khác, xin trích dẫn để tham khảo:
Nguyễn Đỗ Mục cho Ngô môn là tên đất.
Tôn Thất Lương cho Ngô môn là Dòng dõi nhà Ngô Khởi (?- 381 tr CN), người nước Vệ, tướng nước Ngụy, sau theo Sở (thời Chiến quốc), có ghi trong Sử ký Tư Mã Thiên.

19- Xếp bút nghiên theo việc cung đao.
(*) Đầu 投: Ném, Quẳng, Xếp. Bút nghiễn 筆硯: Bút và nghiên.
(Đầu phủ, Đầu thoa: Ném rìu, Ném thoi - TĐ Điển cố Trung hoa - Lưu Lục Sinh)
Ban Siêu  班超 (32-102), tự Trọng Thăng, noi theo  tấm gương Phó Giới Tử đời trước: “ Kẻ trượng phu nên bắt chước Phó Giới Tử, Trương Kiên lập công ngoài cõi chứ sao chịu lận đận ở chỗ bút nghiên này” (TN ĐC VH tr 78). Ông bỏ bút nghiên theo việc chinh chiến và trở thành danh tướng đời Đông Hán. (Phần sau, còn được nhắc tiếp đến nhân vật này).
Nhưng chuyện nghiên bút nhà họ Ban thật đáng kể:
Cha của Ban Siêu là Ban Bưu 班彪? (Năm 3-54) nhà Sử học và Văn học, viết Sử ký.
Anh Ban Siêu là Ban Cố 班固(Năm 32-92) viết tiếp quyển Sử ký của cha còn dở dang và sau đó viết bộ Hán thư. Hán thư viết chưa xong, Ban Cố mất. Em gái của Ban Cố là Ban Chiêu 班昭(49-120) lại viết tiếp Hán thư. (BKT VH CĐ TQ). Các tác phẩm của họ Ban, giữ vị trí then chốt trong sử sách Trung Hoa.
(Hán thư còn gọi là Tiền Hán thư, viết về giai đoạn Tây Hán 206 T.C.N. đến 23 S.C.N.
Sau này Hậu Hán thư  thời kỳ Đông Hán từ 25 - 220 S.C.N do Phạm Việp, người đời Tống Nam triều viết.)

20- Muốn đem một loạt thành dâng Vua
(*) Liên thành 連城: mấy thành liền nhau. Theo Điển tích 連城之璧  Liên thành chi bích
Sử ký chép: 趙 惠 文 王 時 , 得 楚 和 氏 璧 .秦 昭 王 聞 之 使 人 遺 趙 王 書 愿 以 十 五 城 請 易 璧. Triệu Văn vương thời, đắc Sở Hòa thị bích. Tần Chiêu vương văn chi, sứ nhân di Triệu vương thư, nguyện dĩ thập ngũ thành thỉnh dịch bích.(Nước Triệu, thời vua Huệ vương có được  Ngọc bích của họ Hòa nước Sở. Tần Chiêu vương biết vậy, sai sứ dâng thư  lên Triệu vương, xin đem 15 thành liền nhau để đổi lấy Ngọc bích).  Về sau, “Liên thành chi bích”  hoặc “Liên thành” chỉ vật quý giá. Theo Thuyết văn và TĐ Kim sơn - NXB Đại học Băc Kinh
(*) Minh thánh 明聖 : Vua, tiếng gọi với lòng thành kính.  

21- Nguyền sẽ đem thước gươm chém giặc.
(*) Xích kiếm 尺劍: thước kiếm, do chữ 三 尺 kiếm Tam xích của Lưu Bang, dài 3 thước.
(*) Thiên kiêu 天驕: câu tự xưng của Thiền Vu 胡 乃 天 子 之 驕 子 也 Hồ nãi Thiên tử chi kiêu tử dã,  Người  Hồ là kẻ kiêu ngạo của Thiên tử. Còn người Hán thì gọi là giặc trời.
Lý Bạch có câu 插羽破天驕 .Sáp vũ phá Thiên kiêu - Mũi tên (có cắm lông) bắn ra phá giặc trời. - Tái hạ khúc.
Lại có câu 胡馬風漢草, 天驕蹙中原 : Hồ mã phong Hán thảo, Thiên kiêu xúc Trung nguyên (Ngựa Hồ như gió thổi dạt cỏ Hán, Thiên Kiêu lại buồn xịu mặt ở Trung nguyên) Đăng Kim Lăng dã thành tây bắc tạ An Đôn.

22- Kẻ Trượng phu có chí ngoài nghìn dặm  lấy da ngựa bọc thây
(*) Mã cách 馬革: Da ngựa. Do điển tích trong Hậu Hán thư: Mã Viện bảo Mạnh Ký rằng: “男 兒 要 當 死 於 邊 野 , 以 馬 革 裹 尸 還 葬 耳 , 何 能 卧 床 上 在 兒 女 子 手 中 耶” Nam nhi yếu đương tử ư biên dã, dĩ mã cách khỏa thi hoàn táng nhĩ, hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung da. Nghĩa là: Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ thì có hay gì ?” (TN ĐC VH- tr 265)

23- Tính mệnh được coi trọng như Thái sơn, nhưng cũng xem nhẹ như lông chim hồng.
Sử ký Tư Mã Thiên司馬遷:人固有死,死或重於泰山,或輕於鴻毛 , Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư  Thái sơn, hoặc khinh ư hồng mao,. (Người ta vẫn có cái chết, song cái chết đáng nặng như núi Thái sơn, cũng có cái chết nhẹ như lông chim hồng). 報任少卿書 Báo nhiệm Thiếu Khanh thư.
Thái sơn泰山 : Tên một ngọn núi nằm phía đông của núi Ngũ Nhạc nổi tiếng, tại tỉnh Sơn đông, TQ.
Ngày xưa các bậc Đế Vương thường đến đây hành lễ.
(*) Hồng mao鴻毛: lông chim hồng.
Hồng: Theo Khang Hy TĐ và Thuyết văn; Hồng là chim Hộc 鵠 (Giống nhạn lớn).
Sách Lã Thị Xuân Thu: ghi Hồng là Biểu tượng của Vua Thần Nông.
Người Việt coi mình là con Lạc cháu Hồng, viết chữ Hồng này, có nguồn gốc của Viêm đế, Vua Thần nông.
(*) CPN lặp nguyên văn của Lý Bạch:泰山一擲輕鴻毛 Thái sơn nhất trịch khinh hồng mao - (Kết vạt tử).

24- Liền rời chốn khuê phòng theo việc chinh chiến.
(*) Khuê khổn 閨閫: phòng của phụ nữ, chỉ vợ con.

25-Gió thu vẳng tiếng roi ngựa ra cầu sông Vị.
(*) Tây phong: gió mùa thu.
(*) Minh tiên 鳴鞭: Vừa quất roi ngựa vừa hò hét.
(*) Vị 渭: Sông Vị, sông chảy qua Trường An, sau đó nhập vào Hoàng hà. (Trường An là Kinh đô của nhiều Triều đại phong kiến TQ; nay là Tây An, tỉnh Thiểm Tây, TQ) .
Các Triều đại phong kiến Việt nam cũng gọi nơi vua ở là Trường An.
Vị kiều 渭橋: cầu trên sông Vị.
(*) Lý Bạch - Tái hạ khúc: 駿馬若風飆, 鳴鞭出渭橋Tuấn mã nhược phong phiêu, Minh tiên xuất Vị kiều (Dường như con tuấn mã lao trong gió bão, (kỵ sĩ) vừa quất ngựa vừa hô hét phóng về cầu sông Vị)
_
Hà Như biên soạn

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời