Thông báo, tin tức mới nhất

Khói Mây Vương Giấy được lấy ý từ câu thơ chữ Hán "Hà hữu huy hào lạc chỉ vân" (Trên giấy, nét nào vương khói mây) của Nguyễn Tư Giản 阮思僩 (1823–1890) được viết trong lần ông đi sứ Trung Quốc.

Đại ý bài thơ viết rằng, trước những nét bút như mây khói vương trên giấy, người xem không cần câu nệ việc có biết thưởng thức hay không, chỉ cần hiểu, nước Nam vốn chia sẻ sự tương đồng về văn hóa, văn tự với các nước đồng văn Trung - Nhật - Hàn.
Đỗ Phủ toàn tập (20/06/2015 20:57)
Thời gian vừa qua, mục thơ của Đỗ Phủ đã được bổ sung gần 800 bài thơ, qua đó toàn bộ thơ của Đỗ Phủ với đầy đủ dịch nghĩa và dịch thơ đã được đăng trên Thi Viện. Bản dịch của phần lớn các bài thơ mới đăng là của dịch giả Phạm Doanh, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ.

Mời các bạn thưởng thức tại đây: Tác giả Đỗ Phủ
Vào lúc 23h ngày 15/6, máy chủ của Thi Viện đã gặp phải một sự cố đột ngột khiến cho dữ liệu bị hư hỏng nặng và không thể phục hồi được. Chúng tôi buộc phải sử dụng bản sao lưu dữ liệu gần nhất của Thi Viện là từ ngày 13/6. Điều này cũng đồng nghĩa với việc toàn bộ hoạt động diễn ra trên Thi Viện sau ngày 13/6 đến thời điểm xảy ra sự cố đã bị mất.

Chúng tôi rất lấy làm tiếc và mong nhận được sự thông cảm của các bạn.
Triển lãm Hồn Dó (21/05/2015 08:06)

Thơ mới: 2 (Mikhail Iurjevich Lermontov)

2

Однажды русский генерал
Из гор к Тифлису проезжал;
Ребенка пленного он вез.
Тот занемог, не перенес
Трудов далекого пути;
Он был, казалось, лет шести,
Как серна гор, пуглив и дик
И слаб и гибок, как тростник.
Но в нем мучительный недуг
Развил тогда могучий дух
Его отцов. Без жалоб он
Томился, даже слабый стон
Из детских губ не вылетал,
Он знаком пищу отвергал
И тихо, гордо умирал.
Из жалости один монах
Больного призрел, и в стенах
Хранительных остался он,
Искусством дружеским спасен.
Но, чужд ребяческих утех,
Сначала бегал он от всех,
Бродил безмолвен, одинок,
Смотрел, вздыхая, на восток,
Томим неясною тоской
По стороне своей родной.
Но после к плену он привык,
Стал понимать чужой язык,
Был окрещен святым отцом
И, с шумным светом незнаком,
Уже хотел во цвете лет
Изречь монашеский обет,
Как вдруг однажды он исчез
Осенней ночью. Темный лес
Тянулся по горам кругом.
Три дня все поиски по нем
Напрасны были, но потом
Его в степи без чувств нашли
И вновь в обитель принесли.
Он страшно бледен был и худ
И слаб, как будто долгий труд,
Болезнь иль голод испытал.
Он на допрос не отвечал
И с каждым днем приметно вял.
И близок стал его конец;
Тогда пришел к нему чернец
С увещеваньем и мольбой;
И, гордо выслушав, больной
Привстал, собрав остаток сил,
И долго так он говорил:

2 (Người dịch: Thuý Toàn)

Một bữa kia từ núi cao xa thẳm
Vị tướng Nga trở lại Tiflixi
Ông mang theo một đứa trẻ thơ
Vừa bắt được trong những ngày trận mạc
Dọc đường dài bao gian nan khó nhọc
Đứa bé kia không chịu được, lả đi
Nó mới chừng năm sáu tuổi biết chi
Nom ngơ ngác tựa hồ như nai núi
Như cây sậy, người yếu gầy còm cõi
Nhưng bệnh tình đau đớn đã khơi lên
Khối tinh thần dũng mãnh của cha ông
Nó quằn quại không một lời than khóc
Không cả tiếng kêu rên thảng hoặc
Trên đôi môi còn hơi sữa thơ ngây
Nó ngoảnh đi, mặc thức ăn đưa đến tận tay
Và kiêu hãnh lặng im chờ thần chết
Một tu sĩ thấy động lòng thương xót
Đã nhận xin để chạy chữa chăm nuôi
Từ bấy giờ nó ở lại nơi đây
Giữa những bức tường cao vây giữ
Dần khỏi bệnh nhờ tình thương cao cả
Nhưng nó không còn ham thích đùa chơi
Những ngày đầu nó xa lánh mọi người
Đi thơ thẩn, lặng im, cô độc
Luôn thở dài nhìn phía vầng dương mọc
Lòng buồn đau day dứt nhớ quê hương!
Nhưng ngày qua, cảnh giam giữ quen dần
Nó đã hiểu tiếng của miền xa lạ
Và đã được đức Cha cho chịu lễ
Sống cách ly đời trần tục náo huyên
Và đã định rằng khi đến tuổi thành niên
Sẽ phát nguyện trọn đời làm tu sĩ
Nhưng bỗng nhiên một đêm thu mưa gió
Nó biến đi. Rừng rậm núi bao quanh
Ba ngày liền cho tìm kiếm truy lùng
Mãi mới thấy nó ngất nằm trên cỏ
Nó lại được đưa về phòng tu nhỏ
Người yếu gầy, nhợt nhạt, thảm thê
Như vừa qua một trận ốm gớm ghê
Hay bị đói, hay bị làm nặng nhọc
Nó im lặng, ai hỏi gì chẳng đáp
Và mỗi ngày người nó một tàn đi
Thần chết đón chờ đã ngấp nghé đứng kề
Một tu sĩ lúc bấy giờ tìm đến
Ban lời dạy và đọc lời cầu nguyện
Kiêu hãnh nghe, nó gượng ngửng đầu lên
Đem sức tàn còn sót lại trong mình
Để kể lại hồi lâu cùng tu sĩ:


Nguồn: Thơ M. Iu. Lermôntốp (Nhiều người dịch), NXB Văn học, 1979

Trích diễm...

Quá khách bất tu tần thái tức,

Hàm Dương cung điện diệc thê lương.

–– Quá Giả Nghị cựu cư (Đới Thúc Luân)

 

Tác giả mới

Thơ mới

Thơ thành viên mới

Diễn đàn

© 2004-2015 VanachiRSS