Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Túc Động Đình (Lý Đoan): Bản dịch của Nguyễn Minh

Nối chân trời mặt hồ nước trắng
Dưới tà dương ngàn sóng đỏ xô
Mây cao Vân Mộng gió đưa
Trăng thu chiếu khắp Động hồ lung linh
Lửa dân chài bãi sông lấp loé
Thuyền bán đồ sương đổ mịt mù
Tây viên Nam phố xa mờ
Đều nơi vạn dặm trông chờ tin nhau.
Ảnh đại diện

Túc Đồng Lư giang ký Quảng Lăng cựu du (Mạnh Hạo Nhiên): Bản dịch của Nguyễn Minh

Núi âm u vượn kêu thảm thiết
Sông mênh mông chảy xiết ban đêm
Gió lùa xào xạc hai bên
Ánh trăng chiếu một con thuyền lẻ loi
Kiến Đức không là nơi thân mật
Chỉ Duy Dương mới thật xưa chơi
Nhỏ hai hàng lệ xong rồi
Gửi về đầu biển xa vời phía tây.
Ảnh đại diện

Tự Thương Sơn túc ẩn cư (Tô Quảng Văn): Bản dịch của Nguyễn Minh

Nghe Đào Nguyên lánh Tần tàn bạo
Vào tìm người nào có ai đâu
Động đầy mây khói thâm sâu
Không gà chó, gió mưa lâu có thần
Trên đá thiêng ba thân nấm đẹp
Cửa quan Đào liễu được năm cây
Say nằm mây trắng mơ đầy
Lúc này không biết ta đây ai là.
Ảnh đại diện

Thuật cảm (Nguyễn Thượng Hiền): Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Rong ruổi mang thề báo quốc ân
Ngựa biệt rừng xưa khói bụi trần
Vá trời lấp biển tuy việc khó
Phá nồi chìm thuyền quyết hùng tâm
Vạn dặm chiến bào theo bóng nhạn
Ba canh gươm báu múa rồng ngâm
Bao giờ trói cổ quân cường bạo
Về dâng đất nước rượu đầy mâm.

*Phá phủ trầm chu: Dùng tích. Sử Kí 史記  Tư Mã Thiên: Trầm thuyền, phá phủ tắng, thiêu lư xá 沈船, 破釜甑, 燒廬舍 (Hạng Vũ bản kỉ 項羽本紀) "Đánh chìm thuyền, đập vỡ nồi nấu cơm, đốt nhà lều trại".Chỉ mang lương trong ba ngày tỏ rõ quyết tâm liều c…

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]