Dưới đây là các bài dịch của Mai Xuân Hải. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Vãn Thánh Tông Thuần hoàng đế (Bùi Phổ): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Nam quốc sinh linh hưởng thái bình
Ba mươi năm lẻ ngự triều đình
Trời mây rộng rãi - Nghiêu nhân nghĩa
Nhật nguyệt huy hoàng - Thuấn đức trinh
Luyện chín Kinh Sơn phương thuốc quý
Mở toang Nhị Diện tiệc đào xanh
Tiểu thần nhuần gội ơn mưa móc
Đăm đắm một lòng đáp nghĩa tình

Ảnh đại diện

Vô đề kỳ 3 (Trần Phương Bính): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Ra cửa biết hết số
Việc chi phải khóc gào
Giúp nước không mưu giỏi
Giắt sườn một lưỡi dao
Ngẩng đầu ngắm Hồng Lĩnh
Chín muơi chín ngọn cao

Ảnh đại diện

Vô đề kỳ 2 (Trần Phương Bính): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Trời nghiêng đất ngửa sáu năm rồi
Công tử con nhà vẫn thế thôi
Hận ngút trong lòng vầng nhật tỏ
Thẹn thùng ngoài mặt bóng trăng soi
May còn thân rạc gìn trinh tiết
Chẳng ngại không cơm phải luộc khoai
Thân phận đành cam loài cỏ lác
Gió xuân hờ hững chẳng mơ đời

Ảnh đại diện

Vô đề kỳ 1 (Trần Phương Bính): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Bể dâu thế sự rối như tơ
Tiết tháo lo gìn, tránh mối lo
Hà Hán chưa từng dìm cốt yếu
Núi mây tạm khoá vẻ sầu tư
Thế gian cay đắng, đời người khổ
Đỉnh vạc ngọt ngào, chết tựa về
Công luận vẫn đây, trời vẫn đó
Cảnh Thuần mệnh đẹp biết bao giờ?

Ảnh đại diện

Thánh Tông Thuần hoàng đế khuyến học văn (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Từng nghe:
Người quân tử được gọi là "Thành Đức", quý ở chỗ có đủ cả "thể" cả "dụng";
Bậc Nho giả cầu "cái học vị kỷ", thì cần phải có thuỷ có chung.

Nếu sớm tối không cần cù,
Thì công phu bị gián đoạn.

Kìa:
Bậc đại thánh như vua Hạ Vũ, còn tiếc nuối từng tấc quang âm;
Bậc đại hiền như ngài Tăng Sâm, vẫn mỗi ngày xét mình ba lượt.

Đổng Tử đời Hán, buông rèm mà khích lệ kẻ sĩ;
Xương Lê đời Đường, kiên trì mà đi tới thành công.

Kẻ kia là người, ta cũng là người, mà họ làm được như thế;
Xưa vẫn lý ấy, nay vẫn lý ấy, cốt có chí thì làm nên.

Các người:
Sinh ra ở trong vòng trời đất,
Cùng bẩm thụ khí âm dương.

Mỗi một sự vật, tuy trời phú có thuần tạp khác nhau;
Nhưng đã là người, ai cũng có chí noi theo bậc hiền bậc thánh.

Trước hết, phải tẩy rửa cho trong sạch, ứng đối, tiến lui cho phải phép;
Thứ đến, học các môn lễ nhạc, xạ ngự, thư số khác nhau.

Ngồi ngay ngắn, đứng trang nghiêm, học rồi thường xuyên luyện tập,
Tâm ngay chính, ý chân thành, đạo đức ngày càng thêm mới.

Đào sâu kỹ những điều đã học;
Hăng say tìm những điều chưa thông.

Thể loại "kinh" là thứ chở đạo, phải dốc sức mà giảng cầu;
Thể loại "sử" là sách ghi việc, phải dụng tâm mà suy cứu.

Từ đó, khảo cứu phép tắc của thánh hiền;
Từ đó, nắm vững quy luật của sự lý.

Lời đẹp chẳng gì bằng Kinh Thi, Kinh Thư, Thi, Thư cần phải có;
Hành đạo chẳng gì hơn Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Lễ, Nhạc chẳng thể không.

Lặn ngụp nơi Bát quái, Cửu trù;
Ra vào chốn Bách gia, chư tử.

Tìm bậc đại hiền làm thầy, tìm bậc thứ hiền kết bạn, gần gũi thầy bạn đúng phương châm;
Ra thờ bậc trưởng, vào thờ bậc anh, kính trưởng mến anh hết đạo.

Chớ chạy theo dòng tư dục mà làm trái sự lý;
Những nên coi việc thiện làm thầy.

Khí chất do thói quen mà đổi thay, hãy răn giới một chữ kiêu mạn;
Đạo lý cao nhất cốt ở chỗ, giữ gìn quan hệ xung quanh.

Rèn công phu thực tiễn chân thành;
Chớ mắc lỗi săn lùng danh tiếng.

Có định có tĩnh, có lự có đắc, thành quả mới cao;
Như thiết như tha như trác như ma, cầu tiến bộ mãi.

Bản thân đã có sở đắc;
Lại mong mở rộng cho người.

Người tài dạy người bất tài, người đúng dạy người chưa đúng, giúp đỡ thêm đông đảo;
Thành tựu chẳng riêng mình, lập thân chẳng mình ta, đức vọng thêm bạn hữu.

Nhân càng thục, nghĩa càng tinh;
Công càng cao, nghiệp càng lớn.

Từ đó mà ra sức áp dụng điều sở học;
Từ đó mà noi theo cổ nhân học làm quan.

Giành chức quan cao nhà Hán xưa, khác nào cúi nhặt hạt cải;
Giật lấy khoa bảng nhà Tống nọ, chỉ như nhổ đứt sợi râu.

Người tranh xem bảng hổ đề tên;
Đời ngưỡng vọng đường mây nhẹ bước.

Cùng khách đai vàng bội ngọc, tiếp gót liền vai;
Một đoàn đeo nỏ cầm roi, tiền hô hậu ủng.

Tấm lòng đăng hoả ngày xưa thật chẳng phụ;
Nguyện ước công danh thuở nọ được đền bồi.

Nhờ văn chương mà địa vị rõ ràng;
Nhờ đạo đức mà tục dân giáo hoá.

Giúp dân giúp chủ, lợi ích thấm khắp đương thời;
Bản thân cha mẹ vẻ vang, sự nghiệp lưu truyền hậu thế.

Tất thảy đều nhờ cần cù là trên hết,
Vậy nên bổng lộc sẵn ở trong.

Thế mà chẳng học, chẳng suy;
Chính là tự mình vứt bỏ.

Tối tăm lời dạy ở mô điển, ú ớ chẳng hay;
Ham mê say đắm chốn gió trăng, mịt mờ chẳng tỉnh.

Bóng quang âm nơi khe cửa thấm thoát chẳng tỏ;
Ngọn đèn nơi thành nam le lói chẳng chăm.

Ham mê các trò vui, cái tâm kê khuyển dễ buông thả;
Học mới được mấy tý, cái chí hồng hộc đã thay rồi.

Như Tể Dư, gỗ mục chẳng thể dùng;
Như Từ Tử, dòng nước chẳng biết mạch.

Núi cao chín nhẫn, thiếu một sọt đất chẳng thành;
Giếng chẳng có mạch nguồn, giữa đường đành vứt bỏ.

Cái tài cỏn con chẳng dùng được;
Công việc hèn mọn phải cam làm.

Rong ruổi làm quân dưới cờ, ngực sinh rận rệp;
Bôn tẩu làm lính trước ngựa, lưng đầy bọ giòi.

Vất vả thân đầy tớ dốt ngu;
Khúm núm hèn mọn thật xấu hổ.

Cẩu thả cày cấy, cẩu thả thu hoạch, lỗi ấy vì đâu?
Khốn khổ cái thân, khốn khổ cái tâm, hối hận sao kịp!

Há chỉ làm luỵ tới thê tử;
Mà còn phụ ơn cả mẹ cha.

Ngoảnh nhìn người áo gấm vẻ vang;
Thật đáng xấu hổ và sỉ nhục!

Kìa:
Làm người tốt và không tốt, phân biệt chỉ chỗ đó mà thôi;
Học chăm hay không chăm, còn gì khác như thế nữa!

Ta có vài lời như vậy;
Các ngươi hãy nhớ lấy!

Ảnh đại diện

Ngẫu thành (Phạm Đình Hổ): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Rèm thấp mưa bay đọng khói mây
Cửa bồng tỉnh giấc, nghĩ đâu đây
Vô cùng là nhớ thường theo mộng
Làm bạn chim âu mải tháng ngày

Ảnh đại diện

Phụng chỉ trùng khai Thiên Uy cảng cung ký (Ngô Thì Nhậm): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Thượng đế hiếu sinh thương chết đắm
Một đêm thần tạo, tỏ uy trời
Đền Tiên ì ạch xuôi bè mảng
Núi Sắt rậm rì phủ góc gai
Vua thánh thương quân lòng áy náy
Tôi trung thờ chúa dạ bồi hồi
Từ nay vận chuyển nguy nan hết
Muốn thọ lòng người nở nét tươi


Nguồn: Ngô Thì Nhậm toàn tập (tập II), NXB Khoa học xã hội, 2004
Ảnh đại diện

Thu dạ ký văn (Đoàn Huyên): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Nhà thanh gặp buổi đêm thanh,
Biết bao tiếng động rõ rành bên tai.
Dế kêu rộn rã bụi ngoài,
Gọi bày tiếng nhạn bên trời ríu ran.
Thành sông chuông vẳng trăng tàn,
Tiếng chày lạnh buổi thu hàn biển khơi.
Xa quê ngàn dặm bên trời,
Vấn vương hồn mộng ngậm ngùi khôn khuây!

Ảnh đại diện

Đề Kính Chủ động (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Ta leo lên núi Thạch Môn,
Động non cao ngất, tâm hồn thảnh thơi.
Chùa Phật hiện giữa động trời,
Vách non cao ngất, cây thời biếc xanh.
Chẳng phải quỷ thần đẽo thành,
Công phu khéo léo trời dành từ xưa.
Bốn phương tám hướng bao la,
Trời xanh bát ngát, non xa núi gần.
Cửa động không khép quanh năm,
Riêng tầng trời đẹp để dành riêng ta.
Tâm như vàng mới luyện mà,
Ta người bình đẳng như là chân non.
Sông xanh tựa mắt sa môn,
Đầu Phật tóc tốt, xanh um cây ngàn.
Khác nào vườn Thụ cõi tiên,
Như thành Xá Vệ giữa miền trời Tây.
Chim mỏi cánh đậu rừng cây,
Mây nhàn sà xuống nơi đây, vô tình.
Gió đông thổi, nắng nhạt dần.
Mấy điểm mây khói như gần như xa.
Tạm xong việc võ, nhởn nhơ,
Suốt đời say đắm, bây chừ tỉnh ra.


Nguồn: Mai Xuân Hải (chủ biên), Hoàng Hồng Cẩm, Phạm Thuỳ Vinh, Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông (Tổng tập), Viện nghiên cứu Hán Nôm, NXB Văn học 2003.
Ảnh đại diện

Đỉnh hồ (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Mai Xuân Hải

Ngày nào đúc đỉnh bên hồ
Tú khi chung đúc mịt mờ khói mây
Cưỡi rồng tiên đã xa bay
Chỉ còn mặt nước vơi đầy lung linh

Trang trong tổng số 1 trang (10 bài trả lời)
[1]