Dưới đây là các bài dịch của Đỗ Văn Hỷ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (Lý Thừa Ân): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

[Hà Hưng Tông giữ chức] tri Vị Long châu, phò ký lang, đô tri tả vũ vệ đại tướng quân, kim tử quang lộc đại phu, kiểm hiệu thái phó, đồng trung thư, môn hạ bình chương sự, kiêm quản nội khuyến nông sự, thượng trụ quốc, thực ấp ba nghìn chín trăm hộ, thực thực phong chín trăm hộ.

Ôi! Cái chân không trong lặng, giấu hình khi trời đất chưa chia; cái diệu hữu nẩy sinh, bao trùm trước hữu hình vận động. Sáng thì gạt bỏ cái “không”, Vì cơ vi chẳng phải là không; mê thì bám lấy cái “có”, coi mầu nhiệm cũng là không có. Xa nghĩ đức Phật tổ xưa, trí tuệ của người xem xét tất cả không sót một ai. Cho nên người: giấu kín cái “thực”, làm rõ cái “quyền”, để gọi bảo cái đạo “thường”, “vui” mãi mãi; từ cái “không” đi vào cái “có”, để giúp cho sự hồi hướng giải thoát đời đời. Khéo mở ra muôn vạn pháp môn; để dạy bảo muôn nghìn thế giới. Lênh đênh dòng nước trời Tây; vời vợi suối nguồn Chu Mục. Bắt đầu xây dựng chùa này; hết dạ tôn sùng tượng giáo. Người xưa khuyên bảo, đổi mới không ngừng; hậu thế lưu truyền, đời đời nối dõi. Kẻ có duyên thì cải ném đầu kim; người không hiểu thì nước trôi xô đá.

Kính thay Thái phó Hà Hưng Tông, thuỷ tổ là người ở xóm Ca Nông, hương Thạch Bách, huyện Hà, thuộc Đông Đô, châu Ung Cao tổ là Hà Đắc Trọng, xa nghe giáo hoá của vương triều, dời gót xin làm thần thứ. Từ đó gìn giữ an toàn châu Vị Long vậy. Dân đã ấm no; người đời tôn trưởng. Cho tới đời thứ tám, kể cả tổ tiên xưa có hai đời làm Thái bảo và Thái phó, nghiệp lớn càng thịnh, công cả càng cao. Được coi giữ bốn mươi chín động, mười lăm huyện, dân chúng đều thấm nhuần giáo hoá tốt đẹp, đều hướng về một khuôn phép chung. Trải qua năm đời thì đến đời bấy giờ. Ông của Thái phó giữ chức Thái bảo, lấy công chúa thứ ba của Thái Tổ hoàng đế làm phu nhân. Nhân việc đó lại được Thái Tổ trao cho chức Hữu đại liêu ban. Phu nhân sinh ra hàng cha chú của Thái phó; tất cả có bốn trai tài, ba gái đảm. Riêng thân phụ Thái phó là người thi hành nhân chính; làng xóm yên vui. Thân phụ của Thái phó lấy con gái thứ sáu của quan Thái thú họ Lý ở Phú Nghĩa làm phu nhân. Từ khi sinh con trai đầu lòng cho đến người con trai thứ tư, cha mẹ Thái phó đều nuôi dạy ân cần; cho chơi đùa hợp cách con trai thì dùi mài kinh sử; con gái thì kim chỉ thêu thùa. Ngày qua tháng lại, năm Ất mão niên hiện Thái Ninh [1074], thân phụ Thái phó chỉnh đốn vương sư, đánh sang ải Bắc. Vây thành Ung cho bõ giận; bắt tướng võ dâng tù binh. Do đó, phụ thân Thái phó được nhà vua ban chức Hữu đại liêu bàn đoàn luyện sứ. Cấy cày theo phép tỉnh điền, thóc lúa ùn ùn như núi; khách khứa ba nghìn đông đúc, cửa nhà nhộn nhịp phố phường.

Năm Đinh Tị niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng [1077], bấy giờ Thái phó mới lên chín tuổi, chiếu gắn hồ son vời về sân đỏ; sổ tiên lựa chọn, kết bạn em vua. Nhưng vì Thái phó còn nhỏ, nên xin được về nấp bóng mẹ cha. Đến tháng Giêng năm Mậu Ngọ [1078], Thái phó mới lên mười tuổi. Nhà vua lại sai quan Nội phụ văn tư lang trung là Kiểu Nghĩa, ngầm mang thánh chỉ, thẳng tới ấp phong, đón trẻ thơ ở nơi xa vắng, cho gang tấc gần gũi mặt rồng, để kết duyên với công chúa Khâm Thánh và phong làm Tả đại liêu ban. Than ôi! Giữ lễ tiết trang nhã; sửa dung mạo đoan trang. Nâng khuê bích nguy nga; vận lễ phục rực rỡ.

Cuối đông năm Nhâm Tuất [1082], vua tiễn đưa công chúa về nhà chồng ở bản châu. Nhà vua ban tiệc mừng long trọng; Thái phó sắm đủ lễ đón dâu. Ăn mặc đủ màu, dân chúng xem đông như hội; năm cung sáu viện, chị em đưa tiễn rợp đường. Đạo thất gia chưa vẹn, tình xướng hoạ chưa lâu, bỗng năm Ất Sửu niên hiệu Quảng Hựu [1085] mẹ cha đều mất, công chúa tóc tang.

Đến năm Bính dần [1086] nhà vua xuống chiếu cho Thái phó được nối chức cha, vẫn giữ tước củ là Tả đại liên ban, lại kiêm thêm Tri châu Vị Long, giữ tiết độ sứ, kim tử quang lộc đại phu, kiểm hiệu Thái phó. [Thế là] được quyết định chính sự bắt đầu từ tằng tổ, sau đó cứ lần lượt thay nhau xuống đến mãi Hưng Tông, tất cả mười lăm đời. Ôi, chữ “thời”! Nước xây dựng trên đạo, vững như cột đá; dân hấp thu giáo hoá, xuôi như dòng sông. Hoặc việc nước có điều chưa trọn, thì suy đi nghĩ lại không thôi; xét thói xưa có chỗ đáng tin, thì tạc dạ ghi lòng nào bỏ. Vườn văn rừng phú, sưu tập khắp nơi; cửa lễ đường nhân, dạo chơi đủ chốn. Điều tín là ở nơi bè bạn thì tha thiết ân cần; chữ hiếu là thờ cúng tổ tiên thì băn khoăn khép nép.

Ôi! Giữ lòng thanh làm của báu, sợ một điều “lạc cực sinh bi”; mang hạt trai trong mình, e đã được mà lại mất. Muốn hưởng phúc thuần; lòng ham đạo Phật. Cho nên cuối xuân năm Đinh Hợi niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá [1107], Thái phó dắt dẫn hương lão, xem hướng ở góc quận, chọn đất phía nam Hán Lộc, giáp bên mạn bắc Mẫu Cung [làm nơi dựng chùa]. Cùng đem rìu búa; phát xén rừng mây. Lại chọn thợ hay, xây dựng đền tía. Đẽo gỗ rừng chan chát; chuyển quang sọt rộn ràng. Xà uốn cong cong ngỡ cầu vồng bắc nhịp; mái hiên xoè cánh như chim chóc tung bay. Nhà trắng bao quanh, Tam ma địa gần gũi; tượng vàng đặt giữa, Ngũ tịnh thiên khác nào. Trầm hương nghi ngút, bốc tới trời mây; chuông khánh nhịp nhàng, vang lừng hang động. Hoa thông xanh tốt, chiếm mãi gió từ; cờ phướn quy y, bỏ xa nhà lửa. Nguyện chúc hoàng thượng ngự ngôi báu đời đời; giữ gương huyền mãi mãi. Phận dẫu chỉ là bầy tôi giữ đất; vẫn mang chí mong được gần trời. Thứ chúc quận quân, nương đạo cùng con gái, con trai: gái thì chọn đạo vu quy, đá vàng chung thuỷ; trai thì hết lòng phụng dưỡng, tùng bách xanh tươi. Cuối cùng kính chúc các vị tổ tiên, đều hưởng công ơn diệu quả; đầy đàn con cháu, tắm chung ân huệ lương duyên.

Muốn làm tỏ rõ đời nay, phải ghi bia đá; [cho nên Thái phó] đã sai tôi ghi dẫn và bầy tỏ như sau.

Lời rằng:

Định thể nào không,
Diệu dụng đâu có.
Không, có chớ lìa,
Quả, chân khôn xoá.
Không yên trung đạo,
Biết chọn bên nào?
Tỏ quyền giấu thực,
Đôi đằng tính sao?
Rằng xưa Phật tổ,
Dắt dạy quần sinh.
Không vướng không mắc,
Có duyên có tình.
Lớn thay họ Hà,
Rỡ ràng tiếng tốt.
Tiên tổ qua đời,
Cháu con nối gót.
Bốn mươi chín động,
Đúng mười lăm đời.
Non sông giữ vững,
Nhân ái giúp thời.
Chân tính sáng suốt,
Căn tuệ vững bền.
Ngói xanh lại lợp,
Cõi vàng dựng nên.
Phía nam Hãn Lộc,
Phía bắc Mẫu Cung.
Đất không bụi bặm,
Hơi núi mịt mùng.
Người giỏi ra đời,
Đạo thì thống nhất.
Công đức tạc bia,
Như non khôn mất.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học Xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Đăng Long Đội sơn đề Sùng Thiện Diên Linh bảo tháp bi hậu (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Non ngất nghìn tầm thành Hoá cũ,
Men vin bậc đá viếng thiền gia.
Hoang đường vua Lý bia còn đó,
Tàn bạo quân Minh tháp khác xưa.
Đường biếc rêu phong, người vắng dấu,
Núi xanh vệt cháy, tiết nhiều mưa.
Lên cao tầm mắt nhìn bao quát,
Muôn dặm cây xanh một dải mờ.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học Xã hội, 1977
Ảnh đại diện

An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký (Chu Văn Thường): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vẳng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào. Đó chẳng phải là sâu xa lớn rộng hay sao!

Phật có sắc vàng (như) người ta có Phật tính, nhưng không (mấy ai) tự giác tự ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều đáng tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp, mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền. Cho nên, bắt chước dấu vết thơm tho của Ưu Điền, A Dục; phỏng theo tung tích sót lại của Ma Đằng, Pháp Lan.

Nay có Thái uý Lý công, giúp vua thứ tư triều Lý, được trao chức: Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tá lý, dực đới công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái uý, kiêm ngự sử đại phu, giao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực thực phong bốn nghìn hộ. Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, uỷ thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía bắc đánh quân Tống xâm lược, phía tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà Hán có công huân Hàng, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Án. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy.

Đến năm Nhâm Tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm một quận Thanh Hoá cho ông làm phong ấp, châu mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức chính. Ở phía tây nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An Hoạch, sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quý giá của mọi người. Sắc óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì còn mãi nghìn đời. Thế là Thái uý Lý công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Tiết tháo được thể nghiệm nên dân quy phụ, vậy mà vẫn luôn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình rằng: lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn lao. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chùi, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bậc, biết lấy gì báo đền. Cho nên, tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ Tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành. Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thanh điểm xuyết, trăn năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường Phượng, bên cạnh vút đồi Bạch Long, dòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi ngung di, trong khoảng giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù Tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội Cốc, trấn át ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua khe cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng.

Tôi học tài thiển lậu, thắng sự nào hay, lạm viết lời quê, để lưu hậu thế. Minh rằng:
Cửa không vắng lặng,
Tục luỵ nào vương.
Nhỏ, nhưng rất nặng,
Kín, vẫn rõ ràng.
Mình gây lành dữ,
Hoạ phúc dễ mang.
Đường trần quay gót,
Xóm thiện bước sang.
Bụi nhỏ tích lại,
Thành ngọn núi vàng.
Giọt nước chứa lại,
Sóng bể mênh mang.
Nếu hay cơ yếu,
Danh, khí trọn đường.
Hiền, ngu lần lượt,
Không kể giàu sang.
Lấy gì báo đáp,
Từ ơn khôn lường.
Dẫy cỏ san đất,
Dựng ngôi Phật đường.
Trước, ruộng ngang dọc,
Sau, Bạch Long cương.
Hữu thông núi thẳm,
Tả tới Phù Tang.
Hai gò núi đá,
Hoa thắm ngát hương.
Dưới tượng Bồ Tát,
Giữa tượng Phật vàng.
Tượng sơn tranh vẽ,
Lẫm liệt khác thường.
Bốn phen việc tốt,
Một cõi huy hoàng.
Tu sửa tượng pháp,
Nhà nước vững vàng.
Tiếng thơm muôn thuở,
Công chói muôn phương.
[...]
Ngọn núi chót vót là ngọn Bích Long,
Đá kia đã đẹp chừ lại thêm bền.
Sắc long lanh chừ tính bẩm tự nhiên,
Chất xanh xanh chừ như khói mới lên.
[...]
Đội ơn vua chừ đã mười chín niên.
Cầu pháp đường chừ bắt chước Ưu Điền,
Ngày thánh ngõ hầu chừ đương độ biến thiên.
Mong thọ như non chừ mãi mãi bình yên,
Tắm từ ân chừ phúc quả vẹn tuyền.
[...]
Đạo chi nhân chừ sánh với Nghiêu thiên.
Ghi bài minh chừ muôn thuở lưu truyền,
Lời quê vụng về chừ thẹn với hậu hiền.

Ảnh đại diện

Tặng sĩ đồ tử đệ (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Giàu sang mây nổi chậm rì
Tháng ngày đắp đổi nước về miền Đông
Lui về rừng suối hơn không
Chè thơm một chén, gió thông một giường


Nguồn: Huyền Quang - cuộc đời, thơ và đạo, Trần Thị Băng Thanh (chủ biên), NXB TP Hồ Chí Minh, 2001
Ảnh đại diện

Yên Tử giang trung (Nguyễn Trung Ngạn): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Triều xuân man mác tràn sông,
Rậm rì hoa cói, chim đồng ngủ say.
Khắp thôn cảnh nắng đẹp thay,
Vô vàn sắc núi tràn đầy thuyền con.

Ảnh đại diện

Trữ từ tự cảnh văn (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ

Tháng ngày nước chảy,
Giàu sang mây trôi.
Gió lửa tan rồi,
Trẻ già thành bụi.

Hồn phách lìa sắc thân như mộng,
Đường mưu sinh, trò rối kéo co.
Thường đùa cợt đưa tay bắt bóng,
Hạc cửu cao đầu đỏ có thừa.
Cá cửa Vũ đuôi hồng chẳng mấy.
Không ngoái đầu tia hồi quang soi lại,
Tâm khế hợp nhận rõ tính thông minh.
Cầu giải thoát chính giác viên thành,
Nguồn đục sáng, lòng thanh diệu dụng.

Đắp xây trong mộng,
Tỉnh giấc hư vô.
Mộng tạo nên nào nhỏ nào to,
Tỉnh hết sạch nào tơ nào tóc.
Tâm trong lặng không nhơ không đục,
Thân cứng bền không trước không sau.
Hoa xuân hồng, đoá đoá tươi màu,
Trăng thu sáng, vầng trăng viên diệu.

Thánh phàm niệm buộc,
Chỉ hiềm là trái ngược lẽ chân.
Sinh tử lòng quên,
Liền ngộ được “nguyện xưa” tính thực.
Tình khoảnh khắc, quả ba đường ứng báo,
Niệm tóc tơ, nhân sáu nẻo tiếp duyên.
Theo bảy thức, ưa ghét dấy lên,
Phá ba độc, vọng chân đều bặt.
Tướng nhân ngã khó thu khó bắt,
Kiếp hà sa lẩn quất bốn đường sinh.
Tham, sân, si, cùng giật cùng giành,
Tăng kỳ số hoành hành chín loại.
Không ngó về quy thức vô minh,
Đành bỏ uổng sắc thân tứ đại.
Khéo dời chuyển các căn hữu lậu,
Liền chứng vào tam muội chân như.

Điên đảo nhị kiến,
Ấy lưới giăng bủa cá tận non cao.
Tịch diệt nhất như,
Tức lừa cưỡi ngược đầu lên bến Giác.
Trong lòng ví không xiêu không lạc,
Mặc tình nghe kẻ bác người dèm.
Châm lửa đốt trời nhọc sức thêm,
Đáy mắt thấy từ bi rủ bóng.
Cầu chân như mà dứt niệm vọng,
Tựa hét to để át tiếng vang.
Bỏ phiền não mà giữ Niết Bàn,
Như sợ bóng chạy vào nắng trốn.

Lắm lét theo lòng hươu ý vượn,
Tránh khỏi sao lợi buộc danh ràng?
Không quay về tổ vực đạo tràng,
Nào thoát được Diêm vương ngục thất?
Nêu mấy chữ “vô thường chớp mắt”,
Vững trơ trơ sáu giặc dẹp yên.
Đốt trong tâm lửa tam muội sáng lên,
Thiêu cháy sạch, Niết Bàn được chứng.
Giăng lưới diệu bắt chim hoàng chim phượng,
Không mưu cùng loài én, sẽ quẩn quanh,
Đã buông câu, câu cá ngạc cá kình,
Chớ để luỵ đám ễnh ương trong hèn mọn.

Chắp tay trân trọng,
Bè bạn thân vinh
Hoặc ai người có thánh có linh
Mở tầm mắt là cùng tiến tới.
Hét!

Ảnh đại diện

Trừu thần ngâm (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Xưa nay mọi vật chừ rằng sai,
Thân mang lấy nghiệp chừ rằng phải.
Vì sao năm uẩn chứ rối bời?
Bởi chưng tựa nương chừ tứ đại.
Lầm sinh cao thấp chừ vắn dài,
Nhận lấy sinh, già chừ chết, hoại.

Người có thịnh chừ có suy,
Hoa cười chừ có rữa.
Nước có hưng chừ có vong,
Thời có thái chừ có bĩ
Ngày có hôm chừ có mai,
Năm có qua chừ có lại.

Về thôi, ẩn đạo chừ núi rừng,
Nguội danh lợi chừ triều thị.
Thiếu Thất chín năm chứ người bạn đồng tâm,
Hoàng Mai nửa đêm chừ cùng ta tri kỷ.
Tuỳ theo số phận chừ Liên Xã chau mày,
Buông thả tâm trí chừ Triệu Châu hởi dạ.

Vị trước lời nói chừ gật đầu,
Đâu nỗi trong giây chừ ngón cựa.
Lò hồng không đúc chừ chiếc dùi tầm thường,
Mãnh hổ đâu thèm chừ miếng mồi thối rữa.
Ngọc sáng nào ngại chừ sóng đào,
Sắc chính hiềm chi chừ đỏ tía.

Đến khi nào chừ sự lý rõ ràng,
Cầm nắm buông bỏ chừ cần gì nghĩ ngợi.
Nửa đêm trâu đá chừ chạy xuống Hải Đông,
Xô vỡ biển san hô chừ trăng trong vời vợi.

Ảnh đại diện

Phóng cuồng ngâm (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ

Trời đất liếc trông chừ, sao mênh mang!
Chống gậy nhởn nhơ chừ, phương ngoài phương.
Hoặc cao cao chừ, mây đỉnh núi,
Hoặc sâu sâu chừ, nước trùng dương.
Đói thì ăn chừ, cơm tuỳ ý,
Mệt thì ngủ chừ, làng không làng!
Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,
Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương!
Mỏi nghỉ tạm chừ, đất hoan hỉ,
Khát uống no chừ, nước thênh thang.
Láng giềng cùng Quy Sơn chừ, chăn con trâu nước.
Cùng thuyền với Tạ Tam chừ, hát khúc “Thương lương”.
Thăm Tào Khê chừ, vái chào Lư thị,
Viếng Thạch Đầu chừ, sánh vai lão Bàng.
Vui cái ta vui chừ, Bố Đại vui,
Cuồng cái ta cuồng chừ, Phổ Hoá cuồng!
Ối ối! Giàu sang chừ, lưng trời mây nổi,
Chà chà! Năm tháng chừ, bóng ngựa lướt ngang!
Nói sao chừ, chông gai bể hoạn,
Tạm quen chừ, ấm lạnh thói thường!
Sâu thì dấn chừ, nông thì xắn vén,
Dùng thì làm chừ, bỏ thì ẩn tàng.
Buông hình hài chừ, đèng nắm bắt,
Tỉnh một đời chừ, chớ chạy quàng.
Thoả ước nguyền ta chừ, được nơi ta muốn,
Sống chết thôi thúc chừ, lòng ta coi thường.

Ảnh đại diện

Thướng Phúc Đường Tiêu Dao thiền sư kỳ 2 (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Tạm tới thăm nom bậc thượng phương,
Dung nhan thọ khảo lại kiên cường.
Thần Quang lòng thẹn lời xương tuỷ,
Tòng Thẩm trời trao tuổi thọ khang.
Nên biết trong đời sinh đức Phật,
Lạ chi giữa lửa nở sen vàng.
Kính dâng bài kệ câu tuỳ hứng,
Xin chớ từ chi chút lễ thường.

Ảnh đại diện

Thướng Phúc Đường Tiêu Dao thiền sư kỳ 1 (Tuệ Trung thượng sĩ): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Thân tuy quê kệch chốn hương quan,
Nghĩa nặng ơn sâu dám chút sờn.
Ý vụng, đổi trao thêm ý mới,
Lòng băng, gìn giữ tấc lòng son.
Xuân về lặng ngắm hoa đào nở,
Gió nổi buồn nghe tiếng trúc dồn.
Buổi nọ qua nhà thăm viếng đoạn,
Không giây, xin dạo một cung đàn.

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối