Trang trong tổng số 55 trang (543 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Khách xá nguyên đán (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Sông Nhị cuối năm còn nấn ná,
Ngồi trong gió bấc, chẳng hay xuân.
Đồng xanh trải rộng làng thôn tết
Tay áo gom đầy cảnh ý xuân.
Nghỉ tết, buông rèm, phòng vắng lặng,
Nhìn hoa, tựa án, khách bâng khuâng.
Tâm hoà trong cảnh, cùng giao cảm,
Lạc giữa trời mây một cánh bằng...


Ảnh đại diện

Hữu cảm kỳ 2 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Cái nghèo cái bệnh hành dai dẳng
Nhờ các đồng liêu xúm xít thăm
Người cõng gạo sang sai trẻ nấu
Người đem rượu đến chỗ ta nằm
Chưa quen lắm kẻ liền khinh khổ
Tri kỷ nào ai nỡ trách tham
Mưa gió sáng nay đường cách trở
Đành xa xăm vọng bến sông nam


Ảnh đại diện

Hữu cảm kỳ 1 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Ngẫm đời dâu biển đau lòng quá
Suy thịnh thăng trầm cõi hỗn mang
Cuộc thế khai bừng thời vận mới
Nhân tình chìm đắm cõi hồng hoang
Ai người xoay chuyển khung trời đất
Đừng vội chê cười đạo Lão Trang
Tâm sáng chí đầy thân lại lão
Về vườn tùng cúc bước thênh thang


Ảnh đại diện

Hung niên kỳ 5 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Hạn dữ trước đông, đồng thất trắng
Hè này gió rét tợ thu sang
Cháo thừa giữa mộ từng ăn chớ,
Rượu cặn đáy vò liệu uống chăng?
Quốc vận nếu liền gia vận nhỉ,
Đại quan đáng gọi lợn quan chăng?
Đừng than vặt vãnh vì no đói
Cùng cực thì ông mới khác thằng


Ảnh đại diện

Hung niên kỳ 4 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Tháng bốn hay mười, sương đậm quá?
Thử Ly nào gợi khách sầu lo.
Tuổi già, nhà khó, thân suy kiệt,
Thời loạn, thân cùng, lúa hạn khô.
Áo tía lòng không hề mộng tưởng,
Da mồi bụng vẫn chỉ cơm ngô.
Khi say khướt rượu bên hàng xóm,
Hứng khởi cuồng lên, khản giọng hò.


Ảnh đại diện

Hung niên kỳ 3 (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Mưa giật cửa song tràn gió lạnh
Tung chăn ngồi dậy, sầu khôn ngơi
Chỉ nghe mụ xóm cầu mùa trúng
Không thấy già làng rót rượu mời
Sông núi quê xưa màu ảm đạm
Nhạn hồng đất khách buồn chơi vơi
Lạ kìa, có kẻ no phè phỡn
Mộ cúng đâu mà chúng được xơi?


Ảnh đại diện

Hoàng cử nhân bị tương ngưu tửu lai yết (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Dịch nghĩa:
Lệnh mổ bò ở chợ còn chưa nới,
Rượu đã hiếm lại đắt, khó kiếm được như lan hương.
Nếu không nhờ văn chương (bình giải) của phe ta báo cáo (khen ngợi),
Thì làm sao có được mâm rượu thịt (của ông)!
Chắc là vội đãi mấy cậu nên có thịt bò béo
Còn vui cùng bạn cũ thì rượu ngon này rất hợp
Khuyên ông hãy say sưa no nê, chẳng cần gò bó,
Vì thịt bò đã khó, mà rượu lại càng khó hơn.

°°°
Bài này hàm ý mỉa mai rằng, chẳng phải vì học trò quí hoá gì thầy đâu, chẳng qua là đãi bên nhà vợ rồi nhân tiện trả cái công phe nhà đã nâng đỡ khi chấm thơ, nên mới mổ bò, đãi rượu vậy thôi.

Dịch thơ:
Chợ cấm mổ bò, lệnh vẫn đang...
Rượu khan giá đắt, quí hơn vàng.
Văn bài nếu chẳng ai nâng đỡ,
Rượu thịt chắc gì ông gởi sang!
Bò béo vội khao nhà vợ chắc,
Rượu ngon hợp đãi bạn xưa chăng?
Ông đừng khách khí, no say nhé,
Xoay được mâm này cũng giỏi dang!


Ảnh đại diện

Hoạ đáp Hoàng tham tri tặng hồi nguyên vận (Nguyễn Khuyến): Bản dịch của Đất Văn Lang

Dịch nghĩa:
Lại ra làm quan thì đâu còn lòng gì ham chức tước.
Huống chi mười năm nay đã khổ sở vì hai thằng giặc bệnh (tạng và phủ).
Như Đỗ Phủ thời loạn lạc thường ngâm than khổ.
Như Đào Tiềm về ở Bành Trạch đã lâu, ưa cảnh nhàn.
Đôi mắt già bao lần kinh hãi trước sự biến đổi như biển cả.
Phần đời còn lại, nay thích hợp để trở về núi.
Việc cứu đời trông nhờ vào sức các công hầu.
Không còn được việc gì, xin khép kín mãi cửa tranh.
------
Thiếu Lăng (少陵): nơi Đỗ Phủ từng ở, và lấy tên hiệu.
Bành Trạch (彭澤): nơi Đào Tiềm hiệu là Uyên Minh từng làm huyện lệnh, được dùng để chỉ chính Đào Tiềm.

°°°
Dịch thơ:

Chẳng chút lòng nào hám tước quan
Mười năm phủ tạng quấy râm ran
Ngâm thơ Đỗ Phủ than thời loạn
Về ẩn Uyên Minh hưởng cảnh nhàn
Mắt lão bao lần kinh biến đổi
Đời thừa còn lại thích bình an
Cứu đời mong ở chư ông cả
Bất lực, tôi đành khép cửa nan.


Ảnh đại diện

Hoạ đáp Hoàng tham tri tặng hồi nguyên vận (Nguyễn Khuyến): “nhị thụ thập niên gian” là gì?

Nhị thụ 二豎 là một điển tích xuất xứ từ Hoàng Đế Nội Kinh (黃帝內經), Trong đó có câu: “人有二豎在內” – “Người có hai thằng giặc ở trong”, nghĩa là trong cơ thể người có hai thằng gây bệnh luôn rình rập, là phủ và tạng (lục phủ, ngũ tạng). Trong văn chương, hai thằng giặc này (tức 二豎 nhị thụ) được dùng để chỉ bệnh tật triền miên trong người.
Cách dùng này đầu tiên được Đổng Trọng Thư đời Hán dùng khi than thở lúc bệnh nặng rằng trong người có hai thằng giặc nhỏ huỷ hoại thân thể. Sau đó nó được dùng như một điển cố trong văn chương Hán.

Câu “Thẩn lao nhị thụ thập niên gian” có nghĩa là: “Huống chi nhọc nhằn vì bệnh hoạn triền miên suốt mười năm nay” (nên đâu còn sức ra làm quan nữa, như trong những câu sau có nói tới).


Ảnh đại diện

Khách trung tác (Lý Bạch): Bản dịch của Đất Văn Lang

Chén ngọc tràn men màu hổ phách
Lan Lăng thơm vị uất kim hương
Chủ mà khéo đãi say mèm khách
Thì cảnh quê người nhẹ vấn vương


Trang trong tổng số 55 trang (543 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: