Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Ngự chế “Thánh Duyên tự chiêm lễ bát vận” (Minh Mệnh hoàng đế): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Tích xưa tàn hỏng cả rồi,
Trang nghiêm chùa mới trên đồi dựng xong.
Tượng báu mây lành phủ trong,
Thân vàng rực ánh tuệ phong toả bừng.
Chùa tựa sườn núi sau lưng,
Trước mặt đầm thông biển trông Tư Hiền.
Đưa người, hoa cửa thông liền,
Chờ khách đường đá tắt quyên kêu rù,

Khánh ngân vang núi thẳm mù,
Kinh đọc quyện cây đồng thu nhiều lần.
Non vắng vẻ xanh tươi ngần,
Cảnh xinh khoan khoái lòng dân lòng trời.
Mẹ già cầu thọ mãi thôi,
Con dân được hưởng ơn trời cầu chung.
Dày dặn nhân xưa đó cùng,
Thân này dám kể công mừng chúng dân!

Ảnh đại diện

Linh Nham động (Minh Mệnh hoàng đế): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Bước lên thắng cảnh vắng tanh,
Chốc lát đã đến Linh Nham động gần.
Đằng trước cổ thụ che tầng
Cửa mây che chắn bụi trần chúng sinh.

Ảnh đại diện

Đăng Điều Ngự tháp (Minh Mệnh hoàng đế): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đỉnh núi nguy nga bảo tháp đầu,
Trèo lên mười bậc mỏi không đâu?
Bốn bề trông xuống rộng xa đất,
Ba bậc vươn cao vút tận trời.
Điều Ngự nghìn năm tồn tại mãi,
Pháp luân muôn thủa vẫn quay hoài.
Xem kinh diệu đế dù chưa hiểu,
Rộng mở thiện tâm thật rõ mười.

Ảnh đại diện

Hà Bắc đạo trung (Lê Quang Định): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Hơn năm tung tích phiêu bồng,
Non Yên Sông Việt vạn trùng nẻo xa.
Tịch mịch chuông tối ngân nga,
Cây khuya xào xạc giữa trời mênh mông.
Trăng soi liễu toả bờ sông,
Giếng ngọc gió lạnh ngô đồng thu rung.
Trằn trọc quán khách quê lòng,
Trong sương chợt vọng chim hồng tiếng vang.

Ảnh đại diện

Quan đình tích toạ hí giản Nhan thập thiếu phủ (Đỗ Phủ): Bản dịch của Nguyễn Minh

Miền nam có điệu vang chày lạnh
Sông phía tây ngâm ánh mặt trời
Khách buồn tiếng dế không nguôi
Cỏ lau đình cổ không rời được nhau
Không trái với xanh màu ràm ngựa
Là đuốc hoa rỗng giữa canh khuya
Nên thành chủ đất lúc già
Nhâm nhi vài chén lưu hà giải khuây.

Ảnh đại diện

Nhất hộc châu (Giang Thái Tần): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Lá liễu chân mày không vẽ lâu,
Áo quần xưa đã lệ tuôn sầu.
Trường Môn lâu đã không còn rửa,
Sao nỗi cô đơn cần ngọc châu.

Ảnh đại diện

Lục nguyệt thập lục nhật đắc vũ, hỉ tác (Hoàng Văn Tuyển): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Cảm ứng trời người đúng thay,
Ruộng nương mưa ngọt tràn đầy tưới qua.
Thuận thời, rải chẳng trước sau,
Riêng chung cũng vẹn giúp hay việc đời.
Một trận mong lúa tốt tươi,
Đầy dòng nào phải xe quay mượn người.
Nhà vua yêu dân chúng rồi,
Tỉnh Nam mùa lúa ắt thời được đây.


(Bấy giờ đang giữ chức tuần phủ 2 tỉnh Quảng Nam & Quảng Ngãi)
Ảnh đại diện

Trung thu thưởng nguyệt (Đinh Nhật Thận): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Trời thu tối nay thế nào?
Hứng thú ta vui đón chào hằng nga.
Hiền thánh rót tràn uống qua,
Ướm giọng quỷ thần hát ca cất lời.
Mái vườn thoảng cỏ lên mùi,
Long lanh góc vắng phẩt hoa sương tràn.
Trăng dịu sảng khoái lòng càng,
Bên mình tiên lão đạo tràng cười vang.

Ảnh đại diện

Liên đắc vũ (Nguyễn Văn Siêu): Bản dịch của Trương Việt Linh

Bấy lâu mưa lại thêm mưa
Có năm hạn hán khổ chưa hỡi trời
Mong mưa ghét hạn, lòng người
Ngọn nguồn không rõ hận trời chưa mưa

Ảnh đại diện

Quá Di Đà tự (Đặng Huy Trứ): Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Chùa cổ tiêu điều cỏ gai,
Tương truyền đây vốn điện, đài Phạn vương.
Mình vàng tượng Phật đen muôn,
Xà voi cột vẽ đã tuôn mọt rời.
Cây cổ sao Đẩu chống trời,
Phướn màu tung ngọn gió ngời đông bay.
Mõ chiều chuông sớm không hay,
Bên này chuếnh choáng lão say nguyên ngày.

Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối