Trang trong tổng số 28 trang (278 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

2b
Ý TƯỞNG
[Lấy cảm hứng từ bài Ý TƯỞNG của Nhà văn Tô Vĩnh Hà]

Người ta thường nói về ý tưởng như một thứ ánh sáng nhiệm màu. Đó là cách nói dễ chịu, nhưng sai. Ý tưởng không phải ân huệ, càng không phải dấu hiệu của thiên phú. Trong đa số trường hợp, nó chỉ là kết quả tất yếu của tích luỹ kéo dài và lao động trí tuệ khắc nghiệt. Ai không chấp nhận điều này thì cả đời sẽ chỉ sống bằng ảo tưởng rằng mình “có ý tưởng”.
1.
Không đọc thì không có quyền nói về ý tưởng
Sau nhiều năm viết lách, tôi rút ra một kết luận thô ráp nhưng không thể tránh: không đọc, đừng nói đến ý tưởng.

Đọc không phải để biết nhiều hơn người khác, mà để biết mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy tri thức. Người không đọc thường mắc cùng một căn bệnh: tưởng rằng suy nghĩ của mình là độc đáo, trong khi nó chỉ là một phiên bản muộn của những điều đã được nói cách đó rất lâu.

Thảm hại hơn, họ lặp lại cái cũ với một sự thành thật đáng thương, rồi tự an ủi rằng “ý tưởng là cảm hứng”. Không. Đó không phải cảm hứng, mà là thiếu tri thức.

Ý tưởng không sinh ra từ đầu óc trống rỗng. Nó chỉ có thể mọc lên trên một nền đất đã được cày xới đủ lâu. Mọi con đường tắt đều dẫn đến sự tầm thường.
2.
Ý tưởng không đến với kẻ ngồi chờ
Có một sự thật ít ai muốn thừa nhận: ý tưởng không thích những kẻ ngồi một mình và tự ngắm mình.

Rất nhiều bế tắc trong viết lách không phải vì thế giới cạn đề tài, mà vì người viết cạn khả năng va chạm. Họ đóng cửa, lặp đi lặp lại những suy nghĩ quen thuộc, rồi than phiền rằng ý tưởng không đến.

Ý tưởng không nằm trên bàn viết. Nó nằm trong tranh luận, trong phản biện, trong những cuộc trò chuyện không cần giữ thể diện. Nó sinh ra từ xung đột của các cái đầu, không phải từ sự vuốt ve lẫn nhau.

Một suy nghĩ không bị phản bác thường là một suy nghĩ yếu.
3.
Ý tưởng không phải thứ để “cảm thấy”, mà để chịu trách nhiệm
Người ta thích nói: “Tôi có một ý tưởng hay, nhưng chưa viết ra.”
Câu nói đó, xét cho cùng, vô nghĩa.

Ý tưởng không tồn tại nếu nó không được triển khai. Một ý nghĩ mơ hồ trong đầu không phải là ý tưởng, mà chỉ là ảo giác trí tuệ. Chỉ khi được đặt vào cấu trúc lập luận, khi phải tự bảo vệ trước phản biện, nó mới lộ rõ giá trị – hoặc sự rỗng tuếch của mình.

Phần lớn “ý tưởng chết yểu” không chết vì thiếu thời gian, mà vì người nghĩ ra nó không đủ năng lực để mang nó ra ánh sáng.
4.
Cái mới hiếm, cái khác còn hiếm hơn
Mỗi ngày có hàng triệu người viết, hàng triệu người nghĩ. Trong bối cảnh đó, xác suất để một ý tưởng thực sự mới xuất hiện là cực thấp. Điều này không bi quan, mà là thực tế.

Vấn đề là: nhiều người không chấp nhận sự thật này, nên họ hạ thấp tiêu chuẩn của mình. Họ bằng lòng với cái “có vẻ khác”, cái “nghe lạ tai”, và gọi đó là ý tưởng.

Không.

Cái khác thật sự luôn gây khó chịu.
Cái đúng-mới luôn bị nghi ngờ.
Và vì thế, đa số ý tưởng được tung hô thực chất chỉ là cái đúng-cũ được diễn đạt khéo hơn.

Chấp nhận điều này là điều kiện đầu tiên để không tự lừa mình.
5.
Ý tưởng không chờ ai cả
Ý tưởng là thứ cực kỳ dễ thối rữa. Không phải vì thời gian, mà vì sự chần chừ.

Mỗi lần trì hoãn, ta tự đánh mất một cơ hội kiểm nghiệm trí tuệ của chính mình. “Để mai” thường chỉ là cách nói lịch sự của sự lười biếng và sợ hãi: sợ sai, sợ bị bác bỏ, sợ lộ ra rằng mình không giỏi như mình tưởng.

Người có ý tưởng thật không chờ điều kiện hoàn hảo. Họ viết khi còn nghi ngờ, công bố khi còn bất an, và sửa sai sau đó. Chỉ những kẻ làm vậy mới đi được xa.
HANSY
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

6
DÙNG TỪ ĐỘC ĐÁO

Muốn có một bài nghị luận hay thì phải biết dùng những từ hay, viết được những đoạn hay. Dùng từ hay là một trong vài yếu tố quyết định để có cách diễn đạt hay.
Một trong vài yếu tố của văn hay là bài văn đó đọc lên từ ngữ cứ như “găm’ vào tâm khảm người đọc. Từ ngữ linh hoạt, dùng đúng lúc, đúng chỗ, lột tả được thần thái của sự vật, sự việc… làm cho người đọc khoái trá thấy mình không thể viết được như vậy, phải thốt lên lời cảm phục: “Viết tài quá!”.
Muốn thế, một mặt người viết vừa phải tích luỹ cho mình một vốn từ ngữ phong phú, mặt khác phải có ý thức sử dụng khi viết.
Từ độc đáo mang tính 2 mặt, sử dụng đúng lúc, đúng chỗ ta có đoạn văn hay, ngược lại dễ rơi vào sáo rỗng, khoe chữ.
Từ ngữ là vốn chung của cộng đồng, nhưng trong thực tế có những từ không phải ai cũng biết sử dụng, dùng đúng, dùng hay – nhất là những từ Hán Việt.
Sẽ rất chán cho người đọc khi một bài viết không dùng được một từ nào cho “trúng”, cho độc đáo, cho hay. Đó là chưa kể viết sai, viết kém. Hay không hiểu đúng từ mà vẫn dùng bừa, dùng ẩu.
***********************
VÍ DỤ MINH HOẠ
***********************
1.
Ở đoạn thơ của Tử, tuy chưa hiểu từng ý, tôi cũng đã cảm nhận cái hồn, cái khí hậu, cái không khí, cái nhịp độ bao trùm toàn bài. Cái gì đó rất là bi kịch, nghịch lý như đời của Tử.
Vừa là lụa, là trăng, là bát ngát chim bay, êm đềm vời vợi, như chốn quảng hàn, mà rõ là máu, là gánh máu của đời mình đi bơ vơ trên biển cả đời mình
(Chế Lan Viên)
2.
Khúc bạc mệnh đã gảy xong rồi, mà oán hận vẫn còn dài mãi nên Nguyễn Du mới tự xưng cái tên thân mật của mình và đau đáu hỏi:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Xuân Diệu)
3.
Mở đầu (Văn chiêu hồn) là một cái nhìn rất bi thiết về cuộc đời. Một cõi dương ảm đạm một thế giới vắng lặng, mênh mông. Toàn một màu chết: Màu bạc của ngàn lau, màu vàng của lá rụng, tiếng sương sa lác đác, tiếng mưa khóc không thôi.
(Hoài Thanh)
4.
Chương III TẮT ĐÈN không khác gì một cái lòng chảo đã nguội đi, đã váng đọng lại một thứ bùn lưu niên, trên đó oằn lênmột số sinh vật. Sinh vật Nghị Quế chồng, sinh vật Nghị Quế vợ mà lòng tham đã hết tính người. Sinh vật lý trưởng và lũ sai nha đốc thuế người, đã tan hoang đi cái tâm người. Và trên cái sa mạc nhân tâm đó, không còn tia nước nguồn thươngnào cả…
Ở chương này, cả chị Dậu quý mến của tác giả, của độc giả cũng chỉ là một con sinh vật mà thôi. Thật được làm người vớitối thiểu phẩm cách làm người thì có đời nào chị Dậu phải điđoạ lạc nhân phẩm của mình đến mức phải đưa con đi bán như một hiện vật cũ ở chỗ chợ người, chợ giời
(Nguyễn Tuân)
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

7
VIẾT CÂU LINH HOẠT

Bài văn hay là bài văn vận dụng được tất cả các loại câu viết đúng một cách thật linh hoạt.
Tính linh hoạt trong việc sử dụng câu thể hiện ở chỗ: Tuỳ từng lúc, từng nơi, tuỳ vào giọng văn của từng đoạn mà có những loại câu tương ứng để diễn cảm cho phù hợp.

-Thậm chí có khi cùng một đoạn văn mà các câu ngắn dài được viết rất khác nhau.

-Có khi để diễn đạt tình cảm và thái độ của mình, nên trực tiếp dùng câu cảm thán, kiểu như:
Nhưng hỡi ôi! Niềm vui quá ngắn trước vẻ đẹp của tình người và của cảnh đời.
(Văn Tâm)
Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bọt mép của mụ văng ra mãi tới ngàn năm…
(Xuân Diệu)

-Khi muốn gây chú ý cho người đọc ta có thể dùng câu nghi vấn. Câu nghi vấn ở đây như là đặt ra vấn đề, rồi sau đó lại tự trả lời, tự làm sáng tỏ.
Ví dụ:
Thương thì đã vậy, còn oán? Thực ra, Nguyễn Du không biết oán ai,… bởi vì theo Nguyễn Du thì bao nhiêu đau thương khác đâu có phải đều do những kẻ “bài binh bố trận”, mà ngay cả những kẻ ấy, Nguyễn Du cũng thấy họ đáng thương.
(Hoài Thanh)

-Đôi lúc câu nghi vấn được đặt ở cuối đoạn, cuối bài. Loại câu này cũng không nhằm mục đích để hỏi ai mà thực chất nó đã được trả lời ngay ở những câu trước đó.
Kềt thúc bằng câu hỏi như thế chỉ có tác dụng lôi cuốn người đọc, buộc họ phải suy nghĩ tiếp.
Ví dụ:
Nguyên Hồng đã sống hơn 60 năm, đã viết hơn 40 năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt cho đời và cho nghệ thuật. Bây giờ, nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy liệu có bao giờ khô cạn được chăng?
(Nguyễn Đăng Mạnh)

-Loại câu có 2 mệnh đề Hô - Ứng cũng hay được vận dụng để thay đổi giọng văn. Chúng thường theo lối kết cấu:
Tuy… nhưng, Càng… càng, Không những… mà còn, Vì thế… cho nên,…

Loại câu này nhằm nhấn mạnh 1 ý nào đó luôn luôn nằm ở vế thứ 2 như:
Cuối cùng vốn từ càng giàu có ông càng cảm thấy rõ hơn sự bất lực này. Càng cảm thấy bất lực ông càng ra sức vủng vẫy, tìm đủ mọi lối để thoát khỏi cái vòng Kim cô đầy sức mạnh, cũng đầy hạn chế của phương tiện ngôn từ.
(Nguyễn Tuân)

Khi viết những loại câu này cần chú ý viết đủ cả 2 vế rồi mới chấm câu.

-Trong nhiều trường hợp, câu khẳng định được diễn đạt bằng câu phủ định của phủ định nhằm nhấn mạnh sự khẳng định này.
Hãy so sánh 2 câu sau:
Câu 1.
Nhà văn nhất định phải phản ánh trong sáng tác của mình những sự kiện, những vấn đề nóng bỏng của xã hội.
Câu 2:
Nhà văn không thể không phản ánh trong tác phẩm của mình những sự kiện, những vấn đề nóng bỏng của xã hội.
(Lê Ngọc Trà)

Tuy nhiên bài văn nhiều khi cần tránh sự khẳng định tuyệt đối, tức phải uyển chuyển và có mức độ trong việc đánh giá.
Ví dụ:
Chỉ có văn học mới đem lại nguồn vui và hạnh phúc cho con ngưởi.
Lẽ ra chỉ nên viết:
Văn học đã góp phần đem lại nguồn vui và hạnh phúc cho con ngưởi.

Ở những câu đánh giá mang tính khái quát trên, để biểu hiện sự thận trọng, chín chắn trong suy nghĩ, người ta thường viết những câu mở đầu với những cụm từ sau:
Nhìn chung, Về cơ bản, Về một phương diện nào đó, Thường thường, Hầu hết, Đại đa số, Phần lớn, Về đại thể…
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

8
VIẾT VĂN CÓ HÌNH ẢNH

Bài nghị luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lý, vừa giàu hình ảnh. Hình ảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lý vừa sáng tỏ, vừa thấm thía.
Biện pháp cơ bản nhất để tạo nên bài viết có hình ảnh là dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu.

Ở đây, những tư tưởng trừu tượng khái quát, khô khan được minh hoạ, diễn đạt bằng cách so sánh với hàng loạt hình ảnh cụ thể sinh động tạo nên khoái cảm cho người đọc không kém gì văn sáng tác.

-So sánh trong văn nghị luận cũng tuân thủ những yêu cầu và cách thức chung của phép tỉ dụ tu từ học. Những so sánh hay phải là những so sánh vừa chính xác đích đáng, vừa bất ngờ thú vị. So sánh bao giờ cũng có sức gợi cảm, gợi trí tưởng tượng phong phú trong lòng người đọc.
Ví dụ:
Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như ngôi sao chổi xẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi loà chói rực rỡ của mình.
(Chế Lan Viên)

-Có khi cũng là liên hệ nhưng được trình bày như một ẩn dụ nghệ thuật.
Ví dụ:
Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kỹ thuật, anh tự thử thách mình về tư tưởng bằng cách buộc mình đi lại một cách mạo hiểm bên bờ vực thẳm. Trên này là chủ nghĩa nhân đạo, dưới kia là chủ nghĩa tự nhiên. Đúng là nhiều phen Nam Cao đã tỏ ra nghiêng ngả, thậm chí muốn sa chân thụt bước. Nhưng người đọc, sau những phút giây hồi hộp căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái, thấy anh cuối cùng vẫn đứng vững được trên bờ.
(Nguyễn Tuân)

-Đôi lúc người viết dựng lại, mô tả lại cảnh vật mà tác phẩm văn học gợi ra.
Tuy vậy, phải thật có mức độ trong kiểu viết này. Nếu lạm dụng và vụng về, bài văn sẽ trở thành bài diễn xuôi các tác phẩm văn học một cách nhạt nhẽo.
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

9
SO SÁNH VĂN HỌC

So sánh văn học được xem như là một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận văn học.

So sánh là một biện pháp hết sức cần thiết trong văn nghị luận. Một mặt nó làm sáng tỏ ngay vấn đề đang nghị luận, mặt khác nó chứng tỏ người viết có kiến thức rộng rãi, phong phú.

Không chỉ có các nhà phê bình nổi tiếng mới hay “liên hệ so sánh” mà bất kỳ một ai, muốn bài viết của mình sinh động, phong phú và có sức thuyết phục… thì cũng phải vận dụng cách thức này. Nhiều khi chỉ cần so sánh là đã nổi bật vấn đề.

Những liên hệ so sánh hay là những so sánh khiến cho người đọc cảm thấy rất tự nhiên mà vấn đề lại nổi bật được các góc cạnh và màu sắc của nó.

So sánh để thấy chỗ giống nhau, chỗ khác nhau nhằm soi sáng mặt kế thừa truyền thống và mặt đổi mới của tác phẩm, hoặc đánh giá những chuyển biến, hoặc tài năng biến hoá phong phú của một cây bút trong những tác phẩm viết chung một đề tài, một hình ảnh ở nhiều thời điểm khác nhau. Có khi chỉ cốt để làm nổi bật một vài chi tiết nào đó của tác phẩm.

Về nguyên tắc, có thể so sánh văn học trên mọi cấp độ: So sánh 2 nền văn học, 2 giai đoạn văn học, 2 thời kỳ, 2 tác giả, 2 khuynh hướng, 2 tác phẩm, 2 phong cách, 2 chi tiêt nghệ thuật…

Người viết văn nghị luận cần phải vận dụng so sánh văn học thường xuyên như một biện pháp “lợi hại” có tác dụng rất lớn trong việc diễn đạt và làm sáng tỏ vấn đề mình cần “nghị luận”.

Để liên hệ, so sánh văn học, người viết phải có một vốn tri thức rất rộng rãi về văn chương. Tuy vậy, cần luôn luôn nhớ so sánh cốt là để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của tác phẩm được phân tích, bình giảng chứ không phải để phô trương kiến thức lan man, mất trọng tâm, bài viết trở nên tản mạn, lạc đề, gây cảm giác rất khó chịu cho người đọc.

*********************
VÍ DỤ MINH HOẠ
*********************
-Xuân Diệu bình rất hay niềm vui khoẻ khoắn của Huy Cận trong bài Mưa xuân trên biển (1959), đã so sánh tâm sự về mưa trong loạt bài thơ mưa của cùng tác giả như: Điệu buồn, Mưa, Buồn đêm mưa (Lửa thiêng), Mưa mười năm sau (1949). Đây chưa kể ông còn so sánh với mưa trong thơ Đỗ Phủ, Nguyễn Du, trong ca dao, dân ca, trong bài hát Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong.

-Bình giảng Tống biệt hành của Thâm Tâm, có thể liên hệ đến đề tài chia tay - tiễn biệt rất phổ biến trong văn học: chia tay trong ca dao, chia ly trong Truyện Kiều, chia tay trong Chinh phụ ngâm…

-Bình giảng bài Thuật hoài của Đặng Dung, một học sinh đã biết liên hệ so sánh với bài thơ của Ngu Cơ viết về Hạng Vũ:

Hán binh dỉ lược địa
Tứ diện Sở thanh ca
Đại vương chí khí tận
Tiện thiếp hà liêu sinh
(Quân Hán cướp hết đất
Khúc Sở vang bốn bề
Đại vương chí khí cạn
Tiện thiếp sống làm chi)

Hai bài thơ có nét giống nhau, đó là cái nhìn hào hùng và bất lực. Cái đẹp của kẻ sỹ, cái hùng tâm tráng chí của kẻ trượng phu, cái hiên ngang, bất khuất của người anh hùng chỉ còn đọng lại trong hình ảnh cuối cùng “Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma”.
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

10
VIẾT CÂU ĐOẠN CHUYỂN TIẾP

Câu đoạn chuyển tiếp giúp tăng cường sự kết dính các đoạn phần bài viết với nhau được chặt chẽ hơn.

I. VỊ TRÍ CHUYỂN TIẾP
1.
Giữa các phần bố cục chính: Mở bài – Thân bài, Thân bài – Kết bài.
2.
Giữa các phần trong nội dung bài, nếu nội dung bài đó có các phần:
Phần phân tích – Phần liên hệ, vận dụng.
Phần chính thức theo logic nội tại của vấn đề đó, nội dung đó – Phần phát triển, mở rộng…
3.
Giữa đoạn ý với đoạn ý
4.
Giữa trình bày luận điểm, lập luận với luận cứ

II. CÁCH CHUYỂN TIẾP
1.
CÁCH NỐI
Dùng kết từ hoặc ngữ tương đương với kết từ và dùng câu chuyển đoạn.
Tức dùng từ nối, câu nối, đoạn nối để nối ý này với ý kia; phần, đoạn này với phần, đoạn kia nhằm chuyển tiếp chúng qua “cái cầu” này.
Ví dụ:
-Qua các phần trên kia, chúng ta đã thấy những ý nghĩa của thơ Hồ Xuân Hương, những ý nghĩa đó luôn có một điểm này đi kèm: Là thơ Hồ Xuân Hương rất sống. Chính cái “rất sống” đó làm cho thơ Hồ Xuân Hương ở mãi trong lòng nhân dân.
(Xuân Diệu)
Sau đoạn nối này XD chuyển sang trình bày cái “rất sống” trong thơ HXH.

-Trở lên, tôi đã đứng vế phía người đọc, người nghe mà nhìn nhận tác dụng của phê bình. Cũng có thể đứng về phía người sáng tác mà nhìn nhận vấn đề.
(Hoài Thanh)
2.
CÁCH ĐẶT CÂU HỎI
Ví dụ:
-Nhưng số mệnh ở đây lại hiện ra dưới hình thức những con người. Bọn người ấy khá đông? Đầy đoạ Kiều không chỉ có một người như trường hợp Thạch Sanh hay Ngọc Hoa, Phạm Tài. Đầy đạo Kiều là cả một xã hội.
Ta thấy gì trong xã hội ấy?
(Hoài Thanh)
Phần sau HT chuyển sang nói về “Bộ mặt xã hội phong kiến trong Truyện Kiều”.

-Cũng trong bài viết này, trong phần phân tích “Bộ mặt xã hội phong kiến trong Truyện Kiều” sau khi trình bày bộ mặt ấy,HT muốn trình bày, lý giải một ý nữa để khoan sâu vấn đề đặt ra, ông lại dùng tiếp một loạt các câu hỏi để chuyển tiếp.

Cái xã hội Nguyễn Du tố cáo là xã hội nào? Là xã hội Trung Quốc thời Gia Tĩnh triều Minh? Hay xã hội Việt Nam cuối Lê đầu Nguyễn?
(Hoài Thanh)
Tiếp theo HT đã luận giải để khẳng định “hiện thực mà Nguyễn Du tố cáo chính là cái hiện thực đương thời ở Việt Nam.
3.
DÙNG PHÉP LẶP
Ví dụ:
Nhớ Nguyễn Trãi chúng ta nhớ người anh hùng cứu nước, người cùng Lê Lợi làm nên sự nghiệp bình Ngô, người thảo “Bình Ngô đại cáo”.
Nhớ Nguyễn Trãi là nhớ người anh hùng cứu nước, đồng thời là nhớ nhà văn lớn, nhà thơ lớn của nước ta.
(Phan Văn Đồng)
Với cách này, bạn cần có sự “nhắc lại” chủ đề đã giải quyết ở phần trên. Bởi nếu không “nhắc lại” thì sự chuyển tiếp vẫn được thực hiện nhưng sự liên kết có thể không chặt, vì ghép lặp chuyển tiếp được thực hiện ở khoảng cách quá xa (khoảng cách gần trong chuyển tiếp không cần làm như thế).
4.
TIỂU KẾT
Khẳng định ngắn gọn nội dung đã trình bày: Đưa ra luận cứ, luận điểm đáng tin cậy, hoặc luận giải một khía cạnh có liên quan giữa 2 luận điểm (đã trình bày và sẽ trình bày) để chuyển tiếp.
Ví dụ:
-Bọn quan lại, bọn lưu manh đều là hiện thân của của số mệnh, cái số mệnh cay nghiệt nó dày vò Thuý Kiều. Nhưng nói đến lực lượng bạo tàn của số mệnh không thể không nói đến thế lực của đồng tiền.
(Hoài Thanh)

-Nhà văn Tô Hoài còn gọi Đôi mắt là một thứi tuyên ngôn nghệ thuật chung của lớp nghệ sỹ các anh hồi ấy.
(Nguyễn Đăng Mạnh)
5.
TẠO THẾ TƯƠNG ỨNG
Chẳng hạn thế đối ngược, thế hô ứng, so sánh.
Ví dụ:
-Tôi vẫn nghĩ rằng, không phải đến Đôi mắt, Nam Cao mới đặt vấn đề “đôi mắt…”
(Nguyễn Đăng Mạnh)

-Nếu như các nhà văn hiện thực phê phán muốn tiểu thuyết (văn học) là sự thực ở đời,như Vũ Trọng Phụng từng tuyên ngôn, thì các nhà văn lãng mạn chủ trương thoát ra khỏi hiện tại…”
(Một học sinh)
6.
BẰNG TRỮ TÌNH NGOẠI ĐỀ
Ví dụ:
Tôi nghĩ rằng, nếu cần cho thêm một cái nhan đề thứ hai cho Tắt đèn, thì riêng tôi, tôi sẽ gọi nó là cuốn Cái thẻ sưu.
(Nguyễn Tuân)
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

11
LẬP LUẬN SẮC SẢO CHẶT CHẼ

Lập luận là dùng những lý lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình.
Lập luận có một ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn trong văn nghị luận.

Để có được lý lẽ, cần vận dụng các thao tác tư duy như phân tích tổng hợp, tam đoạn luận, loại suy, tương phản, so sánh…

Muốn cho lập luận chặt chẽ, kín cạnh, người viết cần đặt mình vào vị trí người đọc, nhận người đọc không cùng một ý với mình, rồi giả định những lời phản bác có thể có từ độc giả ấy để lập luận cho hết ý và kín kẽ.

Vì thế, lập luận trong một bài văn nghị luận thường chứa đựng một nội dung đối thoại ngầm về một vấn để nào đó.

Để làm nổi bật ý nghĩa và giá trị của chi tiết trong thơ, người viết “lật đi lật lại”, “rào trước đón sau”, tạo nên sự chặt chẽ trong lập luận và làm sáng tỏ vấn đề đã nêu.

Do đặc điểm và tính chất của nó, văn nghị luận ít dùng câu mô tả, trần thuật “kể lể” sự việc mà chủ yếu dùng loại câu khẳng định và phủ định với nội dung hầu hết là các phán đoán hoặc những nhận xét, phán đoán sâu sắc.

Làm nên cái hay của văn nghị luận chủ yếu là đưa ra được một chuỗi phán đoán sắc sảo diễn đạt bằng một loạt câu khẳng định có góc cạnh.

Do nhu cầu lập luận, văn nghị luận thường phỉa dùng đến những từ như:
Thật vậy, Tuy thế, Cho nên, Vì vậy, Không chỉ… mà còn, Có nghĩa là, Giả sử, Nếu như, Trước hết, Sau cùng, Một mặt, Mặt khác, Nói chung, Tóm lại, Tuy nhiên, Bên cạnh đó…
có thể gọi chung là hệ thống Từ lập luận.

Cố gắng tránh một số lỗi thường mắc:
Lập luận thiếu lôgíc, Luận điểm không rõ ràng, Không hệ thống, Luận cứ thiếu chính xác, không đáng tin cậy…

***************
VÍ DỤ MINH HOẠ
***************
-Thơ là tình cảm, là cảm xúc. Thơ không lấy việc tả làm chính, không cạnh tranh với văn xuôi về lượng chi tiết, nhưng thơ không thể không cần đến chi tiết, có điều chi tiết trong thơ phải là những chi tiết chọn lọc ở mức nghiệt ngã nhất. Nó cần cái tính chất của cuộc sống.
Sự chọn lọc này, chủ yếu là sự chọn lọc của trái tim. Chi tiết trong thơ phải là những chi tiết giàu sức biểu hiện nhất, có khả năng rung động được lòng người, gợi được những liên tưởng sâu xa…
(Ninh Thị Hoàng Anh)

-Cuộc sống với những hiện thực phong phú, phức tạp vừa là đối tượng hướng tới, vừa là nguồn mạch nuôi dưỡng văn học. Quay lưng lại với cuộc sống, mải mê chuyện đúc chữ luyện câu, mọi giá trị văn chương chỉ là một thứ kỷ xảo, vờn vẽ.
Lục Du, người đã viết hàng ngàn câu thơ, lúc sắp mất trối lại cho con, lời trăng trối mang sức nặng chiêm nghiệm của một hồn thơ tài năng, đi trọn cuộc đời mới thấu hiểu nổi cái lẽ: “CÔNG PHU CỦA THƠ LÀ Ở NGOÀI THƠ”.
Thì ra, sức nặng của trang thơ, của những con chữ lại chính là ở cuộc đời đầy nắng gió ngoài kia. Nhà thơ phải đến đó, phải tìm đến đó để ngòi bút viết lên từ thứ mực chưng cất từ chính cuộc đời đầy phức tạp, bộn bề bao âm thanh của mọi số phận. Văn học ra đời từ cuộc sống một cách tự nhiên như đã trở thành quy luật, thông lệ, nó quay trở về để khám phá, thể hiện lại cuộc sống.
(Trần Văn Toàn)

-Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con người. Người ta thường nói nhà thơ, nhà văn cần có ba yếu tố chủ quan: Tài, Trí và Tâm. Có cây bút chỉ mạnh về tài và trí. Đọc Nguyên Hồng thấy tài và tâm, nhất là tâm nổi lên hàng đầu. Mà “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ở những nhà văn chân chính xưa nay, tâm bao giờ cũng là cái gốc.
Tài và trí chỉ là cành, là ngọn. Nguyên Hồng viết văn như là đặt luôn cái tâm nóng hổi của mình lên trang sách. Nếu cần nói thật khái quát nhất một cái gì chung nhất chomoi5 chủ đề của tác phẩm của Nguyên Hồng, thì đó chính là lòng nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo bao giờ cũng thống thiết mãnh liệt.
(Nguyễn Đăng Mạnh)
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

12
DẪN CHỨNG & TRÌNH BÀY DẪN CHỨNG

Nội dung bài văn nghị luận được tạo nên bởi những lý lẽ và dẫn chứng, cả hai đều có mục đích rất quan trọng là làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận.

Lý lẽ là giúp cho người đọc hiểu.
Dẫn chứng là làm cho người ta tin.
Một khi đã hiểu và tin tức là đã bị thuyết phục.

Những điểm cơ bản và cần thiết cho kỹ năng này là:
-Chọn dẫn chứng
-Sắp xếp dẫn chứng
-Các hình thức nêu dẫn chứng
-Tránh một số kiểu lỗi về dẫn chứng
1.
PHÂN BIỆT 2 LOẠI DẪN CHỨNG:
-Dẫn chứng bắt buộc (DCBB)
-Dẫn chứng mở rộng (DCMR)

Dẫn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu. Còn dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người viết viện dẫn ra làm liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc.

Ví dụ 1:
Có ý kiến cho rằng Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ đặc sắc của làng cảnh Việt Nam. Anh (chị) hãy chứng minh điều đó qua chùm thơ mùa thu của ông.

Ở đề này, chùm thơ mua thu của NK là phạm vi tư liệu mà bạn buộc phải trích dẫn. Đó là những DCBB.

Tuy vậy, trong quá trình viết, bạn có thể liên hệ với nhiều nhà thơ khác cùng viết về mùa thu để so sánh, đối chiếu, làm nổi rõ những nét đặc sắc của mùa thu trong thơ NK. Đó là những TDMR.

Ví dụ 2:
Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng qua chương Hạnh phúc của một tang gia trong Số đỏ.

Ở đề này, DCBB phải lấy từ đoạn trích HPCMTG. Nhưng bạn cũng có thể mở rộng ra lấy một số dẫn chứng khác trong các chương khác của tiểu thuyết SĐ. Hoặc cao hơn nữa là lấy 1 số dẫn chứng của các tác giả khác cùng thời như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… để làm nổi bật nghệ thuật trào phúng của VTP.

Như vậy, CDMR này có thể ở nhiều cấp độ. Nếu DCBB là 1 đoạn trích, thì DCMR có thể là những đoạn khác trong tác phẩm ấy, những tác phẩm khác của cùng 1 nhà văn, những tác phẩm khác của nhà văn khác (cùng thời, trước đó, sau đó, trong nước, ngoài nước, văn học dân gian, văn học viết…)

Dẫn chứng cần tuân thủ quy tắc sau:
-Phải tôn trọng và tập trung vào những DCBB, tránh tình trạng DCMR lại nhiều hơn, coi trọng hơn, làm át cả DCBB.
DCMR chỉ là để làm sáng tỏ thêm DCBB mà thôi.
2.
CHÚ Ý TỶ LỆ GIỮA DẪN CHỨNG VÀ LÝ LẼ

-Bài viết chỉ có lý lẽ (hoặc dẫn chứng quá ít) sẽ trở nên khô khan… tạo cảm giác nặng nề cho người đọc.
Còn bài viết chỉ toàn dẫn chứng (hoặc lý lẽ quá ít) sẽ trở nên hời hợt và nhạt nhẽo, gây cho người đọc cảm giác bài viết rỗng, thiếu sâu sắc.

-Không nên hiểu 1 cách máy móc rằng:
Chứng minh là dùng dẫn chứng nhiều, lý lẽ ít.
Giải thích là dùng lý lẽ nhiều, dẫn chứng ít.
Lý lẽ và dẫn chứng nhiều hay ít phụ thuộc vào từng nội dung vấn đề cần nghị luận.

-Phải linh hoạt trong việc xác định dẫn chứng cũng như cách đưa ra dẫn chứng:
Khi nào thì trích nguyên văn, khi nào chỉ cần tóm tắt dẫn chứng và khi nào trích một số từ ngữ, chi tiết tiêu biểu

-Cần có 1 gia tài dẫn chứng giàu có, phong phú, đa dạng. Phải có trong đầu hàng trăm câu thơ thì may ra mới trích trong 1 bài viết nào đó được vài ba câu phù hợp, đúng và trúng vấn đề đang bàn bạc.
Muốn vậy, phải cần tích luỹ chúng theo 1 hệ thống kiểu như tích luỹ theo để tài, chủ đề, hình tượng, kiểu sáng tác, cách nói, cách miêu tả hay theo hệ thống chi tiết, nhân vật… cùng loại nào đó.
3.
DẪN CHỨNG PHẢI ĐƯỢC PHÂN TÍCH HAY VÀ GẮN VỚI LÝ LẼ

Một bài viết có nhiều dẫn chứng la liệt chỉ mới chứng tỏ bạn chăm học và có trí nhớ (nếu dẫn chứng chính xác) chứ chưa nói gì về trình độ nhận thức, năng khiếu thẩm mỹ và tài hoa.

Người đọc nhận biết được năng lực này nhờ những lời phân tích, bình giảng, bình luận dẫn chứng của bạn. Có khi, vì bạn không phân tích dẫn chứng mà người đọc hầu như không hiểu được dẫn chứng nhằm phục vụ gì cho lý lẽ, có ý nghĩa gì với lý lẽ.

-Như vậy, phân tích dẫn chứng còn quan trọng hơn cả bản thân dẫn chứng. Vì thế, khi lựa chọn dẫn chứng, ngoài yêu cầu chính xác, đa dạng cần chú ý đến những dẫn chứng mà tự mình thấy có khả năng phân tích được sắc sảo và hay.
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00
Ảnh đại diện

Poet Hansy

13
MỘT SỐ CÁCH BÌNH GIẢNG VĂN HỌC

Có nhiều cách diễn ý trong một bài văn nghị luận, nhưng tựu trung thường theo những nguyên tắc chung sau:
Phải nói lý lẽ gắn với tình cảm, cảm xúc vì đó là quy luật nhận thức thẩm mỹ. Phải nói nội dung gắn với hình thức, nói chi tiết hay bộ phận gắn với tổng thể, chỉnh thể nghệ thuật vì đó là đặc điểm của tác phẩm văn học.
1.
DIỄN TẢ TRỰC TIẾP NHỮNG ẤN TƯỢNG VÀ CẢM XÚC VỀ TÁC PHẨM

Diễn tả trực tiếp là diễn tả thẳng những ý nghĩ, những ấn tượng, những tình cảm và những điều tưởng tượng thú vị của mình khi đọc tác phẩm văn học.

Lối bình này đơn giản nhất vì không chú ý phân tích bình luận gì, chỉ diễn tả những cảm nghĩ chủ quan của mình trước một đoạn văn, một câu thơ hay.

Sức thuyết phục không ở lý lẽ phân tích bàn luận sắc sảo, mà ở chỗ cảm nghĩ có chân thật, chính xác và sâu sắc không và lời diễn tả có đạt không.

Ví dụ:
Hoài Thanh chỉ bình vắn tắt và đơn giản thế này về đoạn thơ sau:
Nửa đêm sương gội mái đầu
Chòi cao phần phật mấy tàu lá khô
“Không biết có gì trong cái cảnh “Chòi cao phần phật mấy tàu lá khô” mà câu thơ hay thế”.

Cái tài ở đây chỉ là phát hiện đúng chi tiết hay, và chỉ ra cho người ta chú ý. Người thẩm văn tinh tế, sắc sảo và giàu cảm xúc mới có thể bình hay theo lối này được.
2.
DIỄN Ý PHÂN TÍCH RA THÀNH HÌNH ẢNH

Lối bình này đi đôi với khả năng thiết kế hình ảnh, vừa gợi lại bức tranh của người sáng tác, vừa làm sáng tỏ lý lẽ của nhà phê bình.
Đây cũng là cách để làm rõ, làm nổi bật một đặc sắc của tác phẩm.

Ví dụ:
Bình bài ca dao Lính thú thời xưa, Hoài Thanh dựng lên rất đạt hình ảnh con người giả và con người thực của anh lính phải đi trấn thủ lưu đồn. Con người giả tức con người công cụ cồng kềnh đè nặng lên con người thực.

“Đến khi con người thực vụt hiện ra được ở cuối bài thơ thì câu thơ bỗng khóc oà lên và người ta không trông thấy gì ngoài những dòng nước mắt”.

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa
(Lính thú thời xưa)
3.
PHÂN TÍCH DỰA VÀO QUY LUẬT TÂM LÝ

Lối bình này đòi hỏi phải có vốn sống lịch lãm. Bình văn chương mà gắn với đời sống thì bao giờ cũng gần gũi, dễ hiểu và tươi mát.

Cách viết là phân tích quy luật tâm lý của con người ta trong cuộc sống bình thường để soi sáng quy luật của tình cảm, cảm xúc trong văn thơ. Hoặc có khi cũng để làm nổi cái khác thường của tính cách nhân vật.

Ví dụ:
Hoài Thanh viết về cách nổi giận của Từ Hải:
”Một người phi thường như Từ Hải không thể trong lúc giận dữ ném một cái chai, một cái bát, hay đập bàn, đập ghế như cái bọn tầm thường là chúng ta. Từ Hải mà giận dữ hẳn phải kinh khủng như trời đang lặng lẽ bỗng nỗi giông tố, sấm sét:
Từ Công nghe nói thuỷ chung
Bất bình nổi giận, đùng đùng sấm vang”.
4.
PHÂN TÍCH DỰA VÀO MỘT TIÊU CHUẨN GIÁ TRỊ NÀO ĐẤY CỦA NGHỆ THUẬT

Lối bình này đòi hỏi phải thông hiểu lý thuyết trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật và khoa học để vận dụng một cách sáng tạo.

Đây là cách viết dựa vào một tiêu chuẩn nào đó về giá trị nghệ thuật, để dẫn đến chỗ đánh giá cao một chi tiết hay của tác phẩm.

Ví dụ:
-Để khẳng định giá trị nghệ thuật cao của nhân vật văn sỹ Hoàng trong truyện Đôi mắt của Nam Cao, có người đưa ra tiêu chuẩn chung của những nhân vật có phẩm chất nghệ thuật độc đáo:
”Những nhân vật như thế thường giống nhau ở đặcđiểm này: Có những chi tiết có vẻ rất ngẫu nhiên, thậm chí vô nghĩa nữa, vậy mà không thể hình dung ra nhân vật ấy đúng như bản chất của nó nếu như gạt bỏ những chi tiết ấy. Nghĩa là rất ngẫu nhiên mà rất tất yếu. Có vẻ vô nghĩa ấy nhưng không cò không được”.

-Để bình cái không khí im lặng to lớn và trang nghiêm trong một đoạn thơ, Xuân Diệu đã bàn về giá trị tạo “ngôn ngoại” của cái gọi là “bút pháp im lặng” trong thơ.

-Hoài Thanh thì vận dụng khái niệm về “độ” của triết học biền chứng để nói cái ranh giới cheo leo giữa 2 trạng thái cảm giác, cảm xúc thuộc 2 nhân sinh quan tích cực và tiêu cực của con người.

-Theo lối này, Nguyễn Tuân còn thề hiện cái độc đáo cũa mình bằng cách vận dụng cả những hiểu biết về nhiều ngành nghệ thuật khác nhau như điện ảnh chẳng hạn, thậm chí cả những quy luật về đạo lý học, sinh vật học… để làm nổi những giá trị văn học mà mình phát hiện.

***
Tóm lại, mỗi lối bình yêu cầu một vốn tri thức khác nhau, một cách tư duy và năng lực diễn đạt khác nhau.
Nhưng cần nhắc lại điều này:

Cái quyết định cuối cùng không phải là lối bình này hay lối bình khác, mà ở chỗ cái hay, cái đẹp của tác phẩm mà ta muốn làm nổi lên có đúng là cái hay, cái đẹp thật không. Và người bình có thật sự cảm thấy cái hay cái đẹp đó không.
*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
Chưa có đánh giá nào
Ảnh đại diện

Poet Hansy

TÌNH SỬ TRẦU CAU
Poet Hansy
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj2c0e8ENPaJ0a_YGweZqVAAa6SCYX9s7Zse5UlKwZXKkKfNNGiymXYO5sX8KvN-wZ37JxlxjRX8ZI43IHW-vKEP2Y_FnABViqTC1V4CATSC5L5ggctt_iGZYXzXYE-BtZVvA1lZRfeFQv7iNlScY5JqFJtaOymEO5yjyA3ZmS0zMK9G5vuLb5M3JRbTM4a/w434-h640/0.1..PNG
2026

*******************************************
–Weblog HANSY: https://poethansy.blogspot.com/
–THƠ TÌNH Hansy-FB: https://www.facebook.com/PoetHansy#
–ĐƯỜNG LUẬT XƯỚNG HOẠ-FB: https://www.facebook.com/...roups/DUONGLUAT.XUONGHOA/
15.00

Trang trong tổng số 28 trang (278 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] ›Trang sau »Trang cuối