Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vanachi vào 30/03/2008 01:14, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi karizebato vào 07/04/2009 00:44

Bức thứ mười ba:
(Kim Trọng cứu giải oan nghi án của Ngô Khôi)



Kim đang ngồi trước công đường
Ngói cong mưa rụng, rêu tường lá bay
Xạc xào gió cuộn hoa lay
Cây nghiêng hàng gọi cuối ngày vàng trơ (1310)
Núi xa thành dựng mây mờ
Thôn xa khói tím vẩn vơ nhạt nhoà
Ngoài sân lích chích bầy gà
Gọi nhau đến dưới hiên nhà ủ con
Chim nào buông điệu véo von
Tưởng như đất cũ tiếng còn giục ta
Bao năm chưa lại quê nhà
Trải hồng một giải cỏ hoa dõi chờ
Chênh vênh vách núi xanh mơ
Thác cao ghềnh vắt dòng tơ ngang trời (1320)
Trại hoa Đá Trắng thương ơi
Mỗi tên đất – mỗi dấu đời vọng vang
Thương từ nương sắn khóm lang
Nhớ từ mùi đất bên đàng nhớ đi
Lớn lên giữa núi xanh rì
Cỏ cây như thể tứ chi thuộc mình
Một thời chia nhục chia vinh
Đã làm nên cõi tâm tình - là ta
Bây giờ sợ khác trước xa
Chắt chiu ảo ảnh như là thiên thu (1330)
Kim còn tựa án ưu tư
Tình neo cánh gió, ý từ hạt mưa
***
Dưới thềm đã vọng tiếng thưa
Dẫn vào bà lão già nua tuổi trời
Lưng còng, quần áo tả tơi
Tay nương gậy trúc vẻ người chốn quê
Kim truyền: lão ở đâu về
Có chi oan ức đạt đề của công
Bẩm quan già ở núi Đông
Suốt đời cặm cụi vun trồng rau khoai (1340)
Hiếm hoi được mụn con trai
Ngô Khôi tên gọi, tuổi ngoài ba mươi
Cảnh già mẹ goá, con côi
Vào rừng hái nấm, lên đồi bẻ măng
Nhà nghèo chưa đủ miếng ăn
Kể chi đau ốm khó khăn khôn lường
Năm xưa quan trấn địa phương
Một hôm gặp ở giữa đường, bắt đi
Giữ giam nào rõ tội chi
Thân nghèo còn biết lấy gì đảm đang (1350)
Hai năm còm cõi lang thang
Dò la được biết đày sang huyện này
Vội vàng chống gậy đi ngay
Tấm thân muôn dặm đoạ đày nắng mưa
Lần xin cơm cặn canh thừa
Nhìn con lần cuối cho vừa nhớ mong
Xác này bỏ chợ trôi sông
Còn hơn tựa cửa ngùi trông lệ tràn
Đánh liều, già đến cửa quan
Cậy nhờ phụ mẫu xá oan cởi sầu (1360)
Mẹ con cho đuợc nhìn nhau
Làm thân trâu ngựa kiếp sau nguyện đền
Vô cùng – cảm tạ ơn trên
Thân này dầu nát không quên tấc thành
***
Mưa ngoài trĩu ngọn cỏ xanh
Mây vương nắng quái bên thành mưa dây
Rập đầu lạy trước án mây
Trên khuôn mặt lão vương đầy lệ rơi
Kim truyền tra sổ tìm người
Rõ ràng án buộc những lời vu vơ (1370)
Già nghe mừng tủi sững sờ
Vẻ e quáng mắt, vẻ ngờ chiêm bao
Lệnh truyền xuống bọn quản lao
Giỏ khoai vội xách theo vào thăm con
Trông già chàng những héo hon
Bước chân từ mẫu trèo non đạp ngàn
Đời còn lắm chuyện trái oan
Bất công nhan nhản, lầm than dẫy đầy
No nê chi bọn tớ, thầy
Họp bè kết nhóm đạp giày dân đen (1380)
Trời cao chẳng thể với lên
Tiền tài thế lực bốn bên dập vùi
Hùa nhau một lũ ăn người
Tiếng kêu tắc nghẹn, tiếng cười hả hê
Giận mình một thuở đam mê
Trị dân thẳng mực ra bề tôi trung
Nặng nề quỳ gối khom lưng
Cũng phường bịt mắt tai bưng bấy ngày
Vá trời khôn một bàn tay
Đành đem chí gửi chén say giày vò (1390)
Thôi thì đủ mặt đủ trò
Thân tâm nô lệ vào cho đồng tiền
Tưởng khi theo đuổi bút nghiên
Mộng làm sáng đức thánh hiền cửa công
Ngỡ ngàng bọt nước ra sông
Chốn quê thèm đuợc làm ông đồ già
Chính chân giữ lấy nếp nhà
Đã làm không Hoá thì Hoà thái hư
Khi ngày cao giọng thi thư
Khi đêm thưởng nguyệt cùng sư đạo đàm (1400)
Khi qua làng nước luận bàn
Bảo răn như đạo, khuyên can thực lòng
Còn hơn hoạn lộ long đong
Giúp dân chẳng được như lòng ước ao
Ta còn nhớ giấc chiêm bao
Cầu treo dốc ngược rơi vào phù vân
Theo Kiều lấy phúc làm nhân
Cuối năm xin được thi ân giảm tù
Những ai án tích lờ mờ
Xin cho phóng thích, lượng nhờ quan trên (1410)
Bút rồng đạo đạt đôi tên
Ý tình tha thiết trình lên tỉnh đường
***
Bọt mưa nhuộm nắng mây huờng
Cơn mây trên đỉnh phố phường về đâu
Thì thùng nhịp trống tan hầu
Ngoài sân ngựa cũng gục đầu hí vang


Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006