Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi hảo liễu vào 09/11/2015 23:09

Đã mấy triệu năm
dòng điện ngủ vùi trong lưu tốc sông Xêsan sông Đà
dầu ứ đọng trong các địa tầng
dưới thềm lục địa
chủ Pháp cũ giám đốc Việt mới vét sạch sành sanh
những vỉa than lộ thiên Hồng Gai Cẩm Phả
chỉ còn than béo than non ăn ngầm
thăm thẳm đất sâu

những giống ngô nuốt vào bụng giấu trong búi tóc
mang về từ xứ người đã mấy trăm năm
gầy guộc thấp tè chen với cỏ gừng cỏ gấu
thóc lép mỏng nhân dày trấu
thoái hoá hai vụ chiêm mùa
thóc Ỏn, gạo Dự, nếp Quýt, tám Xoan dẻo ngọt thơm bùi
sàng sẩy mỗi sào dăm bảy thùng
nia thừa nong thiếu
gà ri nhẹ như trái dứa
lợn Ỷ lợn Mường nhỉnh hơn đon lúa

dai dẳng chiến tranh suốt đời túng đói
câu ca buồn bao đời truyền lại
“tứ thời rau muống tứ thời tương”
đình miếu thấp le te
chùa Một Cột nho nhỏ xinh xinh
“gánh” hát
“chiếu” chèo
chéo khăn
mụn vải
nước lọ cơm niêu ngô đèo khoai rãi…

da ếch bịt trống bầu khô làm đàn
quạt mo gối nan
tương cà gia bản “vẩy cá lá rau”
chõng nứa giường tre một đời chồng vợ

râu tôm ruột bầu
xuống bể mò cua lên rừng hái bứa
ngả vại tương bần
trưa chấm sắn luộc tối trộn ngô bung
con mơ thịt vịt dầm tương
vợ thèm bánh đúc
chén mắt trâu hạt mít chồng nhắp dè từng giọt
mật sắn rượu khoai

khi chó Laika cưỡi Tàu Phương Đông bay vào Vũ trụ
người quê tôi đau bụng vẫn chỉ nuốt gừng
nhức đầu xông ngải cứu cúc tần
bong gân quệt vôi
dập xương bó lá
thầy giáo làng thu tiền học bằng mẹt khoai, xâu cá

Mẹ chỉ đủ tiền mua dép lốp cho chị gái sang Phủ Lý học lớp ba
tôi vào lớp một
chân đất dẫm gai bồ quân
tủi thân nằm ôm chó đá cổng đình
nửa đêm Mẹ ra góc vườn ngồi khóc

tháng tám dốc bồ tháng ba giáp hạt
khói chỉ bay loãng tuếch trên mái bếp cuối ngày
nửa làng đi xin cả xóm ăn mày
trẻ trâu đói lả bẻ mía non
người lớn vặt trụi ngọn khoai lá đậu ngoài đồng

chết đuối - lặn xuống ao trộm cá
ngã gãy chân tay - trèo cây hái mít xanh
bần hàn cố đế túng quẫn thâm căn
vay mượn truyền đời nợ nần mãn kiếp
sợ hãi ngấm thịt xương
buồn đau hoà khí huyết…

thiếu ăn nên thiếu máu
ngồi xuống đứng lên choáng váng sa sẩm mặt mày
đói rỗng đầu hoa mắt run rẩy chân tay
bom đạn đi qua bão lụt đi qua xơ xác tiêu điều
đồng ruộng chiêm khê mùa thối
sân đình nước đọng à uôm ếch nhái
gạch Bát Tràng lát đường cậy bán từng viên

phòng khi thất bát
giàn bếp treo mươi túm khoai lang
đáy cót lúa dăm nồi
gạo trong ang vài đấu
sắn lát nửa nong ngô tẽ lưng bồ
ăn dè xẻn khoai chiêm thắc thỏm đợi lúa mùa
cầu Trời lũ lụt đừng dâng bão dông chớ đổ!...

đeo đẳng mấy chục năm
ở Thế kỉ Hăm mốt vẫn không bỏ được thói quen
mỗi khi gặp hột thóc lẫn trong bát cơm
tôi nhằn vỏ trấu nuốt trôi hạt gạo

người đàn ông cuối cùng trong làng khoác lên mình áo lính
làng quê phố thị rặt con gái đàn bà
cõi nhân gian què quặt thê lương
đất nước có một thời hình như ai cũng khổ.


Nguồn: Nguyễn Thái Sơn, Chiến tranh - chín khúc tưởng niệm, NXB Văn học, 2009