Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi hảo liễu vào 09/11/2015 23:14

Trẻ nhà quê
tóc thả trái đào, áo nâu quần cộc
ra đường cái quan túm vạt áo cha
lớn ngộc còn nhay ti mẹ
mẹ đi cấy sớm mẹ về chợ khuya lại bú tí bà
vú bầu vú mướp không còn mùi sữa

chúng tôi ra đời
phố chợ đông vui
làng đồi heo hút
Na Hang, Xích Thổ, Bá Thước, Con Cuông
ham chơi đáo thích đánh khăng chọi cù
quanh quẩn đồng làng chăn trâu cắt cỏ
sớm học cách làm chồng làm vợ
đào ao dựng nhà
mùng ba tết cha dạy “bói chân gà”
học ông nội tính mưa đoán nắng
- xem rễ si búp đa

vào lính được mặc quần mới áo lành
ngủ trong màn, nằm chiếu, đắp chăn
giật mình nghe tiếng nổ xé tai
lần đầu bắn súng

lính nhà quê ra trận
vụng về ngờ nghệch
“kẻ thù” cũng ngơ ngác giống chúng tôi
trai Tháp Mười, Bù Đăng, Ninh Bình, Yên Bái
cùng trang lứa
mười bảy
mười chín
hai mươi

tân binh Nghĩa vụ Quân sự
lính mới Quân dịch Cộng hoà
đánh nhau như “đá bóng trên đồng mới gặt”
cầu thủ con nhà nghèo
nghiệp dư chân đất

những “trận đấu” dằng dai
mùa Khô sang mùa Mưa
không phân thắng bại
có khi may mắn tàn trận “lưới” hai bên vẫn sạch
nhiều khi “thủng lưới” trăm lần ngàn lần
mỗi bàn thắng một thân trai gục ngã!

lực lượng chênh lệch sớm phân định thắng thua
máu quân lính hai bên ít đổ
đáng sợ - những trận đánh cân sức cân tài
cáng nhau dìu nhau vào chấm vôi “mười một mét”
bên thua - cả năm trái ra ngoài
bóng bật xà lăn khỏi vạch cầu môn
chỉ cần một lần thôi
- có bên toàn thắng!

không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
dễ như người lính
nhanh như lính
nhiều như lính
đương nhiên
mặc nhiên
tất nhiên
hồn nhiên
như lính

loạt hoả tiễn rời giàn phóng
sau nháy mắt làm nổ tung dãy hầm cố thủ
lính đối phương chết tức khắc
không đớn đau
không hay biết
như dây điện đứt lìa - bóng đèn phụt tắt
trứng quạ từ tháp chuông rơi xuống sân nhà nguyện
mảnh ngói chùa Diên Hựu rơi tõm xuống hồ sen

thân thể tử sĩ khoẻ mạnh căng đầy
hồng hào sạch sẽ thơm tho
ngồn ngộn thịt múi da săn
ván gỗ long đinh
nắp quan tài bật

có người chảy hết máu
thân hình lép xẹp như cá mòi khô
lùng nhùng tấm chăn lính màu rêu
huyệt nông choèn
vun mãi không đầy mộ

ngày nào chăn trâu chơi “bịt mắt trốn tìm”
anh ẩn bụi cây, nấp sau mô đất
tìm không thấy
mắt đỏ hoe
giọng nghẹn ngào
môi méo xệch
túm được anh
em mừng như tìm thấy trâu bò đi lạc

chùm bom khoan rơi trúng nhà hầm
cả trung đội chết trong lúc ngủ
tìm các anh từ sáng đến chiều
thâu đêm suốt sáng
kẻ dọc vạch ngang bới từng hòn cuội
sàng đất
sảy cát
lay cây
rung cành
chặn dòng suối tát bùn lọc nước
mười mấy mạng người
thịt xương gom chưa đầy mảnh võng
táng một huyệt chưa đầy
đủ mộ
nỡ nào chia!

sớm muộn trước sau những người lính cũng trở về
trên các toa tàu
xe lăn
nạng gỗ
riêng chúng tôi
khuất chìm trong hư vô
không ai nhìn rõ

những người lính sống bình thường
rồi chết
chưa xấu
không kịp tốt
không thành ma quỷ chẳng hoá thánh thần
tụ tán trên tàn cây lá cỏ
ẩn giữa giọt sương trốn trong gợn gió
không phải xuống Địa ngục
chẳng được lên Thiên đường

trở về nơi Mẹ Cha sinh hạ nuôi ta thành người
vạt rừng hoang sơ, cánh đồng phóng khoáng
trở về với con diều cuối cùng, cánh võng đầu tiên
ngược chiều những đoàn quân
hăm hở rùng rùng ra trận
người chết bay ra
kẻ sống đi vào!...

gặp em trai ngủ ngồi trong công sự
bạn chăn bò ôm súng tựa gốc cây nhai trệu trạo lương khô
có người sống những thời khắc cuối cùng
vô tâm nói cười
đang lặng lẽ bước vào cõi chết
chỉ người cõi Âm chúng tôi mới biết

mẹ thét lạc giọng kinh hoàng
nhìn ta tóc rối xoã vai
thân hình trong veo xanh lè như lá
cha gặp con trai trong mộng mị
ta ngồi ôm chân giường khóc thầm
lặng lẽ bay đi…

người trong làng ngoài phố nửa tin nửa nghi
thấy lảng vảng trong sương
nghe lào thào trong gió
thoắt gần thoắt xa khi khóc lúc cười

Trâu Già nhận ra cậu chủ chăn dắt bao năm
cổ nghẹn cỏ rơm gõ sừng dậm chân
cặp mắt chén tống rưng rưng nước đục

khôn ngoan nghĩa tình Chó Mực
rên ư ử gừ gừ trong họng
cụp tai sợ hãi
ve vẩy đuôi mừng
không nhảy lên ngửi tay liếm mặt
chẳng nỡ nhí nhách cắn ma

chúng tôi vô hình vô ảnh
bay ngang bàn thờ ngồi trên nóc tủ
”véo” sôi gấc mẹ đồ “nhón” thịt vịt cha đơm
ngồi bông bênh trên khói bếp em gái ghế cơm
bay lượn quanh nhà
nấp sau cánh hoa lan hoa huệ
đốm lửa đầu nén nhang cháy bùng
mắt tử sĩ trên bàn thờ trào lệ?

chúng tôi trở về
lượn lờ ở cổng đình, rụt rè quanh đền miếu
Ma Làng - người cùng xóm chết già, tổ tiên nội ngoại
chỉ loáng thoáng mấy người chết trẻ
đón tiếp ma mới chúng tôi mười chín hai mươi
chia rượu ngô vài hơi
thuốc lào dăm điếu

nghe nói sau khi chết người ta thành Gió
không hướng không chiều
nghe nói chết rồi con người thành Cỏ
cỏ mọc lan man cỏ bám vật vờ
nghe nói chết đi thịt xương hoá Bụi
bụi bay lang thang bụi cuốn bơ vơ…

vừa mới hoá thân từ kiếp Người
- Bụi lơ lửng trên cao
sắp được đầu thai làm Người
- Bụi là là ngọn cỏ
ơi những Hạt Bụi tiền Nhân tiền Kiếp
lại phải luân hồi
sắp được đầu thai…

đang là Bố là Mẹ là Vợ là Chồng
lại hoá Gió lang thang Cỏ xanh Bụi hồng
không thể yêu thương không còn giận dữ
tiếc nuối người đi đau lòng người ở

nhưng nếu còn được làm Bụi làm Cỏ
cái chết với ta cũng nhẹ đôi phần
ừ thì chết nhưng không huỷ diệt
dẫu là mất cũng không mất hết!

thực hư nào hay
đi trên Cỏ run chân dại tay
hạt Bụi - Ai?
cay xót mắt mình
người thợ chẳng vô tình
đời trước dạy đời sau
để lại khe hở cho Gió lọt trên mái nhà
vào ra quanh khung cửa…

nuối tiếc xót đau
Linh Hồn thét gào thành Giông thành Gió…


Nguồn: Nguyễn Thái Sơn, Chiến tranh - chín khúc tưởng niệm, NXB Văn học, 2009