Dưới đây là các bài dịch của Nguyễn Sĩ Lâm. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 9 trang (86 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Quá Chu Văn Trinh công miếu hữu hoài kỳ 2 (Ngô Thì Nhậm): Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

Lỡ việc Đông A vua trẻ dại
Nhà nho phải mượn lưỡi gươm vàng
“Lầu gà” hoạ để hờn vong quốc
“Động Lộc” danh truyền dấu cố hương
Mồ nịnh vùi đâu xương mục nát
Non Văn còn đó đỉnh hiên ngang
Tấm lòng cứu nước sôi dư luận
Về dạy đàn sau nghĩ chửa đang


Nguồn: Thơ Ngô Thì Nhậm, NXB Văn học, 1986
Ảnh đại diện

Xuân tảo (Phúc Vương Tranh): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Đốt nén hương thơm lẳng lặng ngồi
Đọc xong Kinh Dịch ngẫm cơ trời
Trăng soi viện sáng hoa còn ướt
Liễu rủ cành tơ, gió thoảng ngoài

Ảnh đại diện

Ký Từ Liêm Trình tiên sinh (Lý Tử Cấu): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Chí trượng phu đây rắp đã lâu
Thương thay luống tuổi chẳng phong hầu
Sá chi lương bổng duyên tôi tớ
Vui với tùng quân thú bạn bầu
Nón lá xanh, quen mưa đượm vết
Áo lông đen, ngán bụi pha màu
Áo xuân may sẵn cùng ông hẹn
Dạo khắp non xanh dắt díu nhau

Ảnh đại diện

Đăng Long Đội sơn đề Sùng Thiện Diên Linh bảo tháp bi hậu (Lê Thánh Tông): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Thành Hoá chon von núi một dây
Leo qua đèo đá viếng am mây
Chuyện kỳ vua Lý bia trơ đó
Tội ác quân Minh vết phá đây
Đường vắng chân người rêu biếc phủ
Xuân nhiều mưa núi ngấn xanh dày
Lên cao tầm mắt nhìn càng rộng
Muôn dặm mênh mông cỏ lẫn cây

Ảnh đại diện

Giang hành ngẫu thành kỳ 2 (Lê Hoằng Dục): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Viếng cảnh tìm thơ mở cuộc chơi
Lòng thơ lưu luyến khó xa rời
Cành mai trăng rọi hương theo gió
Bờ liễu thu qua sáo lặng hơi
Việc cũ giật mình vùng biển rộng
Mối lo để dạ chiếc thuyền xuôi
Trời già có biết ta hay chẳng?
Núi vẫn y nhiên nước vẫn trôi

Ảnh đại diện

Giang hành ngẫu thành kỳ 1 (Lê Hoằng Dục): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Dòng nước bao la hứng chẳng cùng
Dừng đàn bên nốc chế ngư ông
Cỏ xanh dễ thấy cò phơi trắng
Cây rậm khôn che bóng xế hồng
Vô ý vỗ thuyền ngàn sóng dậy
Hữu tình đưa khách một buồm giong
Biết bao dấu cũ từng qua đó
Sông núi tư bề mắt ngắm trông

Ảnh đại diện

Thu khuê (Ngô Thì Nhậm): Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

Tơ tình vấn mối những vì ai?
Gượng sửa dung nhan, dạ lạnh hoài!
Mong nhớ não người chinh phụ nọ,
Hoa đèn ngồi bói mấy phen rồi.


Nguồn: Thơ Ngô Thì Nhậm (tuyển dịch), NXB Văn học, 1986
Ảnh đại diện

Thiên vấn (Khuất Nguyên): Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

Hỏi:
Vũ trụ sơ khai,
Ai truyền gốc tích?
Trời đất chưa thành,
Xét đâu lai lịch?

Sáng tối hỗn mang,
Ai suy cho rõ?
Máy tạo chuyển vần,
Ai biết lúc đó?

Sáng tối, tối sáng,
Đắp đổi cớ sao?
Âm dương hợp hoá,
Nguồn gốc thế nào?

Trời tròn chín tầng,
Ai xây dựng kiểu?
Tầng nào khởi đầu,
Thợ nào tay khéo?

Vòng trời buộc đâu?
Trục trời gác đâu?
Chống đâu tám cột núi?
Đông nam sao biển sâu?

Biên giới chín tầng.
Rộng tới mô đó?
Góc nhiều cạnh lắm?
Ai rõ con số?

Đâu trời giáp đất?
Vòng chia thế nào?
Treo đều vầng nhật nguyệt?
Bầy đâu các vì sao?

Hang Dương sớm mọc
Bến Mông chiều xế,
Vầng nhật sớm chiều,
Đi bao dặm thế?

Vầng trăng chất gì,
Chết rồi lại sống?
Hòng được cái lợi chi,
Ấp thỏ nằm trong bụng?

Nữ Kỳ không chồng,
Chín con sao có?
Thần Bá Cường trú đâu?
Mây điềm đâu rạng tỏ.

Đóng sao tối mịt?
Mở sao sáng choang?
Phương đông còn sao Giác,
Ẩn đâu vầng thái dương?

Không tài trị thuỷ,
Sao chúng cử Cổn đi?
Chúng rằng: “Chẳng ngại”,
Sao không khảo sát một khi?

Đê rùa đập cú,
Sao Cổn đắp theo hình?
Chí rắp nên công,
Vua bắt tội sao đành?

Ba năm từ núi Vũ,
Sao không khỏi tử hình?
Bá Vũ là con Cổn,
Sao khéo thay đổi công trình?

Kế tục sự nghiệp,
Hoàn thành công cha.
Sao cũng việc làm trước,
Mà phương kế khác xa?

Nước lụt đường vực thẳm,
Đất đâu lấp vào?
Chín châu chín cấp bậc,
Ruộng đất phân sao?

Đuôi rồng đâu khéo vạch?
Vũ qua bao biển, lạch?

Cồn kinh doanh lối nào?
Vũ thành công cách gì?
Khang Hồi cơn tức giận,
Sao đất đông nam bị sụt đi?

Chín châu đặt đâu?
Sông ngòi sao thẳm đáy?
Sao nước biển đông,
Chứa mãi không đầy vậy?

Đông tây nam bắc,
Chiều nào dài nhiều?
Nam bắc thon lại,
Số dài bao nhiêu?

Huyền Phố núi Côn,
Đâu nơi bám rễ?
Tăng thành chín tầng,
Cao bao dặm thế?

Bốn bên cửa núi,
Ai người ra vào?
Cửa tây bắc thường mở,
Lưu thông luồng gió nào?

Bóng dương sao chẳng tới?
Đuốc rồng đâu sáng rọi?
Hy Hoà xe chửa dong,
Hoa nhược sao chiếu hồng?

Xứ nào đông ấm nóng?
Xứ nào hè rét trời?
Rừng nào mọc cây đá?
Thú nào nói tiếng người?

Núi nào có giống rồng,
Cõng gấu mà dạo rong?

Rắn độc chín đầu,
Nơi nào luồn lủi?
Đâu có nước trường sinh,
Người dài sao giữ núi?

Bèo nào chín cánh,
Lại nở hoa gai?
Rắn nào nuốt voi,
To lớn lạ đời?

Hắc thuỷ đâu sông?
Chỉ, Nguy đâu núi?
Miền ấy dân trường thọ,
Thọ đến đâu là cõi?

Cá lăng, chim kỳ,
Đâu hai giống lạ?
Nghệ bắn mặt trời sao?
Sao rụng cả lông quạ?

Vũ cố công gắng sức,
Chăm lo việc bốn phương.
Còn đâu gặp gái Đồ Sơn,
Mà kết hôn tại Thai tang?

Đôi lứa tìm người,
Nối dõi tính kế.
Sao vội thay khẩu vị,
Chỉ cầu khoái một bữa thế?

Khải thay Ích làm vua,
Phút trừ kẻ thù địch.
Sao Khải biết mưu toan,
Mà u tù thoát ách?

Vây cánh đều bị hại,
Riêng Khải được ngoài tròng.
Sao Ích đã thay ngôi,
Mà Vũ vẫn truyền dòng?

Khải mộng lên chầu trời,
Được nhạc “Cửu biện”, “Cửu ca”.
Sao sinh con phải mổ mẹ,
Để chết phân thây tận cõi xa?

Trời sinh Di Nghệ,
Trừ hại cho dân.
Sao bắn đui mắt hà bá,
Lại cùng Lạc thần ái ân?

Cung khảm kéo căng,
Bắn heo to nọ.
Sao thượng đế không hưởng,
Lễ dâng món thịt đó?

Hàn Xác lấy Thuần Hồ,
Hiếu sắc mà manh tâm.
Sao Nghệ bắn tài thế,
Giết hại khéo mưu ngầm?

Sang tây lối cùng,
Vượt sao non mấy chặng?
Chết hoá gấu vàng,
Thầy mo sao làm sống đặng?

Để dân trồng lúa,
Cổn ngăn đắp bãi lầy?
Cũng đầy cõi thẳm,
Sao tội Cổn nặng thay?

Xiêm nghê lượn nếp,
Vẻ sao xinh xinh?
Trộm đâu thuốc “bất tử”,
Mà không phép tàng hình?

Luật trời tung hoành,
Dương lìa người khác.
Chim lớn kia kêu gì,
Nó có tiêu đâu thể xác?

Bình Ế gào thét,
Sao đổ mưa rào?
Phi Liêm mình hươu,
Sao nổi gió ào?

Ngao đội núi múa
Sao tiên được nên nơi?
Núi không thuyền chở,
Sao tiên lại bạt khơi?

Tới phòng chị dâu,
Ngáo cầu gì đó?
Sao Thiếu Khang suỵt chó,
Rừng sâu phút rơi sọ?

Nữ kỳ may xiêm,
Chung chạ, ân ái.
Sao đã cắt lầm đầu,
Mà Ngáo vẫn bị hại?

Thiếu Khang dấy nghiệp,
Tụ sao dân chúng?
Châm tầm úp thuyền rồi,
Cách nào mà thu dụng?

Kiệt đánh Mông Sơn,
Được gì ở đấy?
Muội Hỉ dâm loạn sao?
Sao Thang đầy Kiệt vậy?

Thuấn lo hiếu dưỡng,
Đơn bóng cớ sao?
Nghiêu gả hai con gái,
Sao không báo họ Diêu?

Xa hoa mới chớm mầm,
Sao lường biết được?
Đài ngọc mười tầng cao,
Ai kết luận trước?

Phụ nữ lên làm vua,
Ai tôn ngôi ấy?
Nữ Oa có dị hình,
Ai cấu tạo vậy?

Thuấn cảm hoá em,
Em vẫn ngần ngại.
Sao chó lợn buông lòng,
Mà tính mạng lại không nguy bại?

Nước Ngô truyền danh,
Non Nam mở lối.
Ai hay cuộc xa chơi,
Đón được hai vua giỏi.

Đồ tế ngọc ngà,
Cúng dâng thượng đế.
Sao Kiệt nối nghiệp xưa,
Trọn phải diệt vong thế?

Vua Thang tuần du,
Gặp được Y Chí.
Sao đất Điều đầy vua,
Dan chúng lại hoan hỉ?

Giản Địch trên đài,
Vua Cốc sao ưng?
Chim én đưa lễ,
Gái Nhung sao mừng?

Khải giữ gìn đức tốt,
Vũ khen ngợi từ lâu.
Sao phải đánh Hữu Hổ,
Phế theo dòng chăn trâu?

Vua Thuấn múa can,
Sao địch quốc hoà thân?
Sườn mập da mịn,
Sao béo tốt nhân dân?

Hữu Hổ dòng kia,
Gặp nạn vì sao?
Khải vào đánh tận giường,
Thoát mạng trốn nơi nao?

Đức lành giữ trọn,
Tế đâu trâu to?
Sao sau buổi tế trời,
Được nhiều phúc ban cho?

Hành vi man muội,
Thân danh đâu còn?
Cú đâu đỗ lùm gai,
Ai ghẹo người cõng con?

Em dâu dâm ác,
Mưu hại anh hoài.
Sao con người quỷ quái,
Dòng giống lại truyền đời?

Thang tuần miền đông,
Hữu Sần tới nước.
Sao cầu người tôi nhỏ,
Mà vợ hiền lại được?

Lồng cây bến sông,
Được đâu đứa bé?
Bắt đi hầu cô dâu,
Vua Sần ghét chi thế?

Đầy đi Trùng tuyền,
Thang có tội gì?
Bản tâm không đánh Kiệt,
Ai đã bày mưu kia?

Hội minh một sớm,
Sao khôn hẹn mà nên?
Đàn ưng tung cánh,
Ai dồn ra trận tiền?

Trận hội đánh chúa Trụ,
Chu Công chửa quyết bài.
Sao mưu phò vua Vũ,
Lo yêu vận nước những than lời?

Nhà Ân có thiên hạ,
Ngôi trời sao được trao?
Trao ngôi lại cất ngôi,
Trụ mắc tội ác sao?

Tranh nhau cầm võ khí,
Không thúc, sao quyết lòng?
Đột kích hai sườn địch,
Không lệnh, sao xung phong?

Chiêu Vương xa chơi,
Bến nam yên nghỉ.
Vương đã tham lợi gì,
Chỉ vì chim bạch trĩ?

Muốn thoả chí vui chơi,
Mục Vương du hành sao?
Ngựa xe khắp thiên hạ,
Mưu đồ sự gì nào?

Người bán hàng yêu quái,
Rao gì trong chợ nọ?
U Vương bắt tội ai?
Bao Tự sao tiến vào đó?

Mệnh trời tráo trở,
Sao phù, sao phạt?
Tề Hoàn làm bá chủ,
Rốt cục bị hạ sát!

Cái thân chúa Trụ kia,
Ai mê hoặc tâm tính?
Sao ghét trung lương,
Mà ưa gièm nịnh?

Tỉ Can trái ý gì,
Vua lại giết càn?
Lôi Khai chiều ý gì,
Vua lại phong quan?

Thánh nhân cùng một đức tốt,
Việc làm sao khác đường?
Mai Bá bị ướp mắm,
Cơ Tử giả điên cuồng.

Tắc vốn con đầu,
Trời sao hậu đãi?
Vứt trên làn váng lạnh,
Ấp ủ chim đâu lại?

Sao được mang cung tên,
Quý Lịch có dị tài?
Công lớn, vua kinh động,
Quyền vị sao lâu dài?

Văn Vương cầm hiệu lệnh,
Chăn dân chỉ chức bá.
Sao sau được nước Ân,
Đất Kỳ triệt nền xã?

Cổ Công rời đất Kỳ,
Sao dân theo về?
Đát Kỷ mê hoặc chúa,
Sao để tiếng chê?

Trụ cho mắm thịt người,
Văn Vương dâng cáo trạng.
Sao trời phạt nhà Ân,
Phút tiêu cả vận mạng?

Lã Vọng ngồi quán thịt,
Vua sao chú ý?
Dao mổ khua dòn,
Vua sao hoan hỉ?

Vũ Vương treo đầu Trụ,
Giận gì nên nỗi?
Thần chủ chờ đi trận,
Hội quân sao vội?

Treo cổ đất Bá Lâm,
Bởi đâu duyên cớ?
Nỗi oan thấu đất trời,
Sao còn e sợ?

Mệnh trời đã dành cho,
Sao thường phải cảnh giác?
Đang ở ngôi tôn sùng,
Trời bỗng thay người khác.

Xưa Thang được Chí,
Phò Kiệt từng tiến cử.
Sao lại về Thang,
Truyền đời miếu thiên tử?

Hạp Lư cháu Thọ Mộng,
Hồi nhỏ lưu vong.
Trưởng thành sao anh dũng,
Truyền để uy phong?

Bành Tổ dâng canh trĩ.
Thượng đế sao hưởng?
Tuổi thọ nhiều như thế,
Cách nào bảo dưỡng?

Cùng giữ chức chăn dân,
Sao gây tranh cạnh?
Ong kiến loài vật nhỏ,
Sao có sức mạnh?

Rau vi nhịn không ăn,
Sao hươu cho bú?
Non Thú lượn dòng sông,
Thích gì, cảnh đó?

Anh có con chó dữ,
Em sao muốn đổi?
Trăm cỗ xe, không cho,
Tước lộc mất truội.

Chiều hôm, trời sấm chớp,
Sá quản về xa?
Có vua không được phụng sự,
Trời phạt gì ta?

Hang hố thân đầy đoạ,
Nói năng gì nào?
Quân Sở thường dấy động,
Hơi sức được bao?
Lỗi lầm biết hối cải,
Ta còn nói sao?

Ngô Quang tranh được nước,
Phá Sở khéo thừa cơ.
Sao đào khắp làng xa, gò núi,
Tìm kiếm người như Tử Văn xưa?

Ta bảo Đố Ngao,
Không được lâu dài!
Sao muốn mình can vua,
Trung trực tỏ danh hoài?

Ảnh đại diện

Thư trai xuân mộ (Nguyễn Như Đổ): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Phía nam thành xuân muộn,
Nhà tranh ván sơ sài.
Rêu biếc thềm phủ khắp,
Cỏ xanh sân mọc đầy.
Khách đến, vừa tỉnh mộng,
Chim kêu, hoa đang rơi.
Thong thả qua ngày tháng,
Kinh Dịch chấm son mai.

Ảnh đại diện

Thanh minh hậu, tặng chuyển vận sứ Trình Văn Huy, kiêm tấn vấn Tràng An giáo thụ Nguyễn Tử Tấn (Nguyễn Như Đổ): Bản dịch của Nhóm Lê Quý Đôn (Lê Thước, Vũ Đình Liên, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu)

Gặp gỡ mừng vui hội gió mây,
Đau lòng ly biệt mấy năm nay.
Lần lữa tháng ngày qua với lại,
Khăng khít tình xưa chẳng đổi thay.
Thẹn tớ một quan không bổ lợi,
Tiếc người trăm dặm phụ tài hay.
Tràng An muốn nhắn thăm nhà giáo,
Tưởng nhớ tin thư chẳng tới đây.

Trang trong tổng số 9 trang (86 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối