Dưới đây là các bài dịch của Đỗ Văn Hỷ. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Thạch mã (Đại Xả thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Gớm ghê răng ngựa đá
Ăn cỏ, hí thâu ngày.
Bên đường người qua lại,
Trên ngựa kẻ ngồi ngây.

Ảnh đại diện

Liễu ngộ thân tâm (Nguyện Học thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Hiểu được thân tâm bừng mắt tuệ,
Muôn vàn biến hoá rất linh thông.
Hết mọi hành vi đều đột ngột,
Hoá thân ứng hiện tính sao cùng.
Tuy rằng đầy khắp hư không giới,
Xem ra hình tướn có như không.
Khôn đem mọi vật mà so sánh,
Một ánh linh quang vằng vặc trong.
Đôi khi thuyết pháp bàn khôn được,
Biết mượn lời chi, cho thoả lòng.

Ảnh đại diện

Quy tịch (Bảo Giác thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Muôn pháp về không, không tựa nương,
Chân như trước mắt, một con đường.
Cái tâm liễu ngộ khôn nơi chỉ,
Như bóng trăng nằm đáy đại dương.

Ảnh đại diện

Đổng Hồ bút phú (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ, Đào Thái Tôn

Khi nhân văn chưa hiện ra thì như thuần chất còn ẩn trong hòn ngọc thái phác.
Chỉ thắt nút dây để làm ước hẹn, vì hồi bấy giờ chưa biết chép ghi.
Lớn lao thay vị thần thánh Hy Hiên, căn cứ vào đạo trời mà lập ra đạo “đại trung” để dây dân.
Đặt ra văn tự để tiên dùng, lấy chữ nghĩa để mà ghi chép.
Lập ra sử quan để giữ gìn phép tắc, làm ngay ngắn mối quan hệ giữa vua tôi.
Đến khi Nghiêu Thuấn nối ngôi, công nghiệp lại rỡ ràng hơn thuở trước.
Vũ Thang khép mình nên cung kính, Kiệt Trụ buông lỏng nên bạo tàn.
Văn Vũ hoà mục mà khiêm cung, U Lệ hôn mê mà tàn bạo...
Người lấy đức để dấy nền thịnh trị, kẻ tối tăm nên làm mất nước nhà.
Ai cầm bút ghi chép thẳng thắn mà được nêu đầy đủ rõ ràng nơi sử sách?
Ôi! Từ khi bánh xe họ Cơ dời sang phía đông, kỷ cương của nhà vua suy đồi không dựng lại được.
Giáo mác ngổn ngang bờ cõi, người hoá ra cầm thú ăn thịt lẫn nhau.
Tôi giết vua, con lại giết cha, luân thường theo đó mà mai một.
Đúng Đổng Hồ là người kiệt xuất, lo giữ gìn khuông mẫu người xưa.
Thường khó nhọc quên cả thân mình, hết lòng thành để viết sử.
Cầm cân nảy mực trong tâm tư, dồn sấm sét ra uy nơi ngọn bút.
Khen điều gì không ngoài cái ác, cầm bút chép một cách thẳng thắn, dù mảy may chẳng dám đơn sai.
Làm sáng tỏ đúng sai muôn thuở, vạch rõ ra sự được mất đương thời.
Khen chê thì nghiêm khắc ở điều thưởng phạt, nghị luận thì dứt khoát như lưỡi búa rìu.

Căm giận thay Linh Công vô đạo, chỉ chuyên nghề bòn rút sinh dân.
Giết kẻ ninh châu gấu chẳng nhừ, từ đài cao bắn người vô tội.
Vui thoả thích hàng ngày không nghỉ, Tuyên Tử can y càng nổi giận.
Sai Sư Nghê giết Triệu Thuẫn đi, Nghê đâm đầu vào gốc hoè tự tận.
Bầy tiệc rượu suỵt chó ngao ra, ngao vượt thềm đuổi cắn.
Tuyên Tử sợ chạy ra ngoài cõi, nước Tấn từ đó loạn bời bời.
Đến vườn đào, Triệu Xuyên giết [Linh Công], đạo thần tử nỡ nào nghe việc ấy.
Thuẫn nghe xong nước mắt đầm đìa, nhưng hình tích gần như kẻ giết vua là Thuẫn vậy.
Vì đã chạy trốn sao không ra khỏi bồ cõi để dứt khỏi chức phận, đã trở về sao không trừ loạn tặc để trả ơn vua.
Ôi! Đi hay về đều là thất nghĩa, cho nên khó tránh được trách nhiệm của mình vậy.

Lớn lao thay bút pháp của Thái sử, nêu lên nghĩa lớn của vua tôi.
Chép tội giết vua để răn bảo triều đình, không tự tay giết mà xem như đã giết.
Tha kẻ cầm giáo mà trách kẻ cùng nhà, vì thực ra Chính Khanh có ý.
Nêu tên Di Cao để làm sáng tỏ điều ác, cho mọi người thấy đức của nhà vua không tốt.
Bút vừa hạ, hai tội đã rõ ràng, quả phù hợp với ý nghĩa sâu xa của kinh Xuân thu.
Khi ngọn bút vừa dầm xuống mực, quỷ thần kinh mà lánh bóng xa.
Đẩy mấy lần cửa mà mở then ván ra, ghi tội lớn chẳng hề kiêng nể.
Cứu kỷ cương vương đạo đã suy đồi, dựng lại phép tắc nhà vua đã nghiêng đổ.
Dồn sức mạnh lên đầu ngọn bút, rủ lời răn sâu đến đời sau.
Lấy đó mà ngăn lòng tà của bọn tiểu nhân, đe cuồng chí của vua nối nghiệp.
Lấy đó mà thận trọng khi vừa dẫm sương mai, lo trước lớp băng dày sẽ tới.
Loạn thần nghe vậy thấy hồn bay, tặc tử nhìn vào e táng khí.
Ngẫm Sử Dật trước thường nghe tiếng, so Đổng Hồ sao khỏi thẹn thùng.
Đẹp đẽ thay Khổng Tử dựa theo trời, lo sử trước chép lời điên đảo.
Theo văn cũ mà sửa sang chép lại, chia gian ngay phải trái tỏ tường.
Cho rằng bút Đổng Hồ là thực, nên một lời cũng chẳng chép sai.
Khiến bọn nghịch loạn hàng ngàn năm nữa, nghe tiếng tâm vẫn phải e dè.
Nếu chẳng phải là gương sáng ở trong lòng, Xuân thu bút lực sao có thể làm như vậy được?
Thật đáng cho họ Tả chép vào làm bộ sử tốt của đời xưa, trải ngàn năm vẫn còn nguyên ý nghĩa.

Ôi! Thân ta cương trực, ngước theo tiên thánh gượng theo đòi.
Vỗ Lân kinh mà than thở, đem điều trung chính xe lại mà đeo.
Muốn lấy trời xanh làm giấy, núi Thái Hoa làm bút, ngõ hầu ghi chép điềm lành của thánh triều mà thôi.

Ảnh đại diện

Trình sư (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Rèn luyện thân tâm thảy sạch trong,
Thông xanh sừng sững trước sân không.
Có người tới hỏi không vương pháp,
Thân tựa bình phong chiếc bóng lồng.

Ảnh đại diện

Thang bàn phú (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ, Đào Thái Tôn

Đẹp thay Thành Thang, sáng suốt ôn lương.
Gió nhân chan hoà chín cõi; dấu nghĩa huy hoàng bốn phương.
Nhân lòng người thuận; đổi Hà làm Thương.
Giúp trời đất để dựng ngôi hoàng cực; vì muôn bang nên sửa lại kỷ cương.
Quét bụi độc ở nơi xa thẳm; nhào nguyên khí ở chốn hoang lương.
Song còn thẹn đức cao chưa khắp; lại lo đạo cả không thường.
Bèn gắng sáng tỏ đức lớn; lo cùng vầng nhật sánh ngang.
Nên làm chậu ngày ngày tắm gội; ngõ hầu cho tinh khiết rỡ ràng.

Cái chậu này:
Dáng hình bền chắc; sức chứa khôn lường.
Tròn như vầng nhật; chứa cả hư không.
Thăm thẳm tứa sóng xô bờ óng ánh; dạt dào như nước chảy sắc long lanh.
Cho Thái Trạch với Liêm Tuyền đều vẩn đục; xem Kim Đồng cùng Thừa Lộ thảy tôi đòi.
Điều đó làm ta biết chậu này chẳng phải chỉ dùng tắm gội, mà ắt để lưu lại lời dạy mãi đến vô cùng vậy.

Bởi lẽ, mặt trời là biểu tượng của nhà vua; chiếc chậu là tượng hình cho mặt nguyệt.
Tuy dáng tròn vẫn không đổi thể xưa; mà ánh sáng vẫn thấy luôn đổi mới.
Chắc thánh nhân khi thể nghiệm đạo trời; sẽ nhận ở chậu này nhiều tâm đắc.
Nguyên tính thường của trời ban xuống; cũng sáng loà như vầng nhật nguyệt kia.
Sợ khi tư dục nẩy mầm; lòng người bị mây mù lấp lú.
Làm luỵ đến đức sáng trong của hòng hiếu đễ; làm mất đi sự trong sáng của lòng thiện ác.
Bèn khắc bài minh ở chậu này; ngụ tấm lòng thành nơi bất diệt.
Đã rửa sạch được bụi nhơ; lại sáng ngời được đức lớn.
Để giữ mãi công tự xét mình; làm cho tột cùng cái sức hàm dưỡng.
Để tâm linh trong trắng rỡ ràng; để thực tính rạng ngời tươi tốt.
Để nêu gương chí thiện với dân này; để rửa cái nhơ xưa cho muôn nước.
Để xoá nhoà mọi hổ thẹn ngày xưa; để lưu lại phép lớn lao cho vua nối.
Như vậy công dựng ấy có thể sánh với đất trời; tính tình ấy có thể sánh cùng nhật nguyệt.
Há phải chỉ là tắm rửa ngoài da, mong tấm thân mình sạch sẽ mà thôi?

Nghĩ rằng:
Tắm mãi điềm lành sinh mãi; gội luôn thì thánh kính càng cao.
Rờn rợn như bên vực sâu thường sợ rớt; mát mẻ như công dội tưới đã ngấm vào.
Đã tắm gội khi Tang Lâm đảo vũ; lại chay thành nơi Sằn Dã lễ trao.
Vắt tóc chưa khô, nghĩ ra ơn cùng trăm họ; rửa mình cho sạch, ngời đức tốt với chín châu.
Chậu dùng lời minh càng vẹn; lòng càng sáng đức lại càng cao.

Đến khi:
Càng khoan càng nhân, đức ngời muôn dân.
Thâu tóm trăm lộc, làm đấng nhân quân.
Nhờ chở che của trời đất, cùng muôn vật trở thành xuân.
Đức lành hoà hiệp, muôn nước duy tân.
Chẳng còn tệ gì mà bỏ, chính sự ngày càng thêm thuần.
Vật thái vì thế mà trong trẻo, dân phòng vì vậy lại càng thuần.
Thế chẳng cũng là không có gì không do chậu này mà trở thành hoà nghi ngút đó ư?

Than ôi!
Đạo không tự hiện, nhờ vật mà hiện; chậu không còn mãi, nhờ minh mà còn.
Mười trống đá ở Kỳ Dương, chín vạc của vua Đại Vũ.
Đều là những vật rất quý mà còn bị tiêu ma, huống cái chậu có bài minh này sao không nát được?
Nếu hai chữ “Nhật tân” không có, thì chiếc chậu kia có đáng nói gì.
Như ta nay chăm chỉ không ngừng, mà theo gót người xưa còn chẳng kịp.
Nên tác ca để khích lệ mình, nguyện giữ một chữ “thành” mãi mãi.

Ca rằng
Cháu vua Thang rực rỡ,
Khác chi mặt trời tròn.
Muôn dân nhuần ân trạch,
Thánh kinh ngày cao hơn.
Chín chữ trên bài minh,
Dù muôn đời không nát.
Nhân dục sạch làu làu,
Thánh đức càng thêm sáng.
Ta hàng ngày tâm niệm,
Đạo học vốn dài lâu?
Đuốc ngọc soi rộng khắp,
Đạo ta thịnh đời đời.

Ảnh đại diện

Phật pháp kỳ 2 (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Từ bi thay Phật pháp,
Linh quang trùm cõi trời.
Muôm thần theo giáo hoá,
Ba cõi tâm sáng ngời.
Sư ta làm hiệu lệnh,
Ma quỷ thảy im hơi.
Xin theo sư thụ giới,
Giúp Phật nào riêng ai.

Ảnh đại diện

Phật pháp kỳ 1 (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ai hộ trì Phật pháp,
Xin hãy tới vườn Kỳ.
Không phải hạt giống Phật,
Nơi khác sớm rời đi.
Bộ Kim cương khôn chép,
Dấu thiêng khó truyền ghi.
Chúng sinh đông vô hạn,
Thờ Phật thành oan phi.

Ảnh đại diện

Đề Phúc Thành từ đường (Trần Quang Triều): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Mây lững lờ bay năm tháng ròng
Từ đường đôi ngả mát xanh tùng
Mưa đêm hoa đọng muôn hàng lệ
Đầm lạnh trăng in một mảnh lòng
Cỏ rẽ đường nay bên dãy gác
Hạc nghe đàn cũ giữa hàng thông
Trước đèn giấc mộng còn vương mãi
Biển rộng trời cao bặt lối trông.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989
Ảnh đại diện

Yên Tử sơn am cư (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Am sát trời xanh lạnh,
Cửa mở trên tầng mây.
Động Rồng trời sáng bạch,
Khe Hổ lớp băng dầy.
Vụng dại mưu nào có,
Già nua gậy một cây.
Rừng tre chim chóc lắm,
Quá nửa bạn cùng thày.

Trang trong tổng số 5 trang (50 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối