Trang trong tổng số 142 trang (1420 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

“Tôi chui vào khung cũi như thú hoang...” (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Tôi bước vào chuồng thú, thế chỗ vật hoang,
cố hết hạn tù, và biệt danh cái đinh trong trại,
sống gần biển, chơi cò quay, bài bạc
từng ăn cùng người, trời biết, mặc áo đuôi tôm.
Từ đỉnh băng, tôi ngắm nửa thế giới luôn.
ba lần chết đuối hụt, hai lần bị thương nặng.
Bỏ đất nước nơi đã nuôi tôi phương trưởng.
Số người quên tôi bằng lượng dân một đô thành.
Tôi lang thang trong đồng cỏ, nơi vẫn nhớ rõ ràng,
tiếng gào rú cửa người dân du mục,
từng khoác trên người cái gì ban đầu là mốt
gieo trồng mỳ, lợp mái giấy dầu cho trại giống cây,
chỉ nước khô tôi chưa được nếm thôi.
Ánh mắt quạ dò xét của lính coi tù len vào giấc ngủ của tôi
từng nhá bánh tù, không để thừa dù vỏ cứng
Để dây thanh quản mình thử qua nhiều thanh âm, trừ tiếng rú
rồi chuyển sang thì thầm. Giờ tôi đã bốn mươi.
Tôi biết nói gì về cuộc đời hoá ra lại thật dài.
Chỉ cảm thấy mình cảm tình cùng đau khổ.
Nhưng khi họng tôi chưa bị nhét đất đầy cho ngạt thở,
thì mồm tôi chỉ còn biết cám ơn.


Ảnh đại diện

“Tôi từng luôn khẳng định rằng số phận là trò chơi...” (Joseph Brodsky): Phân tích bài thơ

Phân tích bài thơ

Bài thơ Tôi từng luôn khẳng định rằng số phận là trò chơi… được I. A. Brodsky sáng tác năm 1971 và đề tặng L. V. Lifshits. Người này là bạn thân của Iosif Aleksandrovich và có lẽ hơn ai hết hiểu được những gì đang diễn ra trong tâm hồn nhà thơ. Vì thế, một tác phẩm rất riêng tư, đầy những mâu thuẫn như thế này được dành riêng cho ông.

Bài thơ chứa đựng những suy tưởng triết học, được bao quanh bởi những câu ngắn gọn, kiểu như những ghi chép đời thường. Về bố cục, mỗi khổ gồm sáu dòng, gieo vần từng cặp. Bốn dòng đầu là những nhận định về thế giới quan. Hai dòng cuối lại là những phác hoạ về cuộc sống thường nhật. Hai phần này tạo nên một sự tương phản rất mạnh, thoạt đầu có thể khiến người đọc khó tiếp nhận. Tuy nhiên, sự tương phản ấy sẽ trở nên dễ hiểu đối với người biết rõ tác giả hoặc chịu suy ngẫm về ý nghĩa tác phẩm.

Bài thơ được xây dựng dựa trên những điệp khúc. Trước hết là những phép điệp đầu câu mở đầu các khổ thơ (trừ hai khổ cuối): “Tôi từng luôn khẳng định”, “Tôi từng cho rằng”, “Tôi từng nói”. Sau đó, phần mở đầu của những câu chứa các luận điểm về cuộc đời của tác giả cũng được lặp lại:

Rằng cần cá làm gì, khi có rồi có trứng cá.
Rằng phong cách Gothic sẽ thành công, như một trường phái…
Cuối cùng, các câu hai dòng lại bắt đầu bằng cụm “Nay tôi ngồi bên cửa sổ”. Chỉ đến khổ năm và khổ sáu, điệp khúc này mới thay đổi thành “Nay tôi ngồi trong bóng tối”.

Những sự lặp lại này không phải ngẫu nhiên. Chủ đề trung tâm của bài thơ là sự tự suy ngẫm. Tác giả, cũng chính là nhân vật trữ tình, trong lúc cô độc và làm những việc hết sức bình thường (“Tôi rửa bát”, “Tôi nhớ lại tuổi trẻ”), đã hồi tưởng những nguyên tắc sống của mình. Nhà thơ luôn nói về chúng ở thì quá khứ, khiến người đọc có thể nghĩ rằng ông không còn giữ những niềm tin ấy nữa.

Hơn thế, trong một số câu thơ còn vang lên sự nghi ngờ về tính đúng đắn của những quan niệm thời trẻ về thế giới:

Tôi từng cho rằng rừng chỉ là một phần của thanh củi lẻ
Rằng cần gì nguyên thiếu nữ, nếu đã có đầu gối.
Nói một cách tương đối, trước đây nhà thơ xem nhẹ con người với tư cách một cá thể, mà chỉ chú trọng đến thân thể. Còn giờ đây, ông nhìn mọi sự theo một cách khác.

Bỗng nhiên ông nhận ra rằng thế giới nội tâm của mình cũng đa dạng không kém thế giới vật chất, thế giới mà trước kia ông từng đánh giá cao và hướng tới.

Phát hiện giúp ông hoà giải với thực tại ấy được cô đọng trong những câu cuối:

Nay tôi ngồi trong bóng tối.
Và bóng tối ấy trong căn phòng cũng chẳng kém hơn so cùng bóng tối ngoài phòng.
Như vậy, thành phần triết học của bài thơ dần thấm vào phần đời thường. Sự hài hoà này còn thể hiện rõ trong hình ảnh “biển gầm sau tấm rèm gợn sóng”. Căn phòng là một ẩn dụ cho tâm hồn nhà thơ, còn biển tìm thấy sự phản chiếu của mình trong đó qua tấm rèm có hình dáng những con sóng.

Điều duy nhất khiến tác giả bận tâm là đóng góp của mình cho thi ca. Ông tự phân tích sáng tác của chính mình:

Bài hát của tôi đã mất môtip rồi,
Nhưng vì thế không hoà vào đồng ca nổi.
Không có gì lạ, tôi được thưởng vì các lời hát đó
không ai còn đặt chân họ đứng lên vai mình.
Iosif Aleksandrovich không bận tâm đến việc thơ ông không được đa số độc giả yêu thích, nhưng lại than phiền rằng với tư cách một nhà thơ, có lẽ ông sẽ không gây ảnh hưởng đến các thế hệ mai sau.

Người đọc có thể nhận ra ở đây một liên tưởng đến câu nói “đứng trên vai những người khổng lồ” của Isaac Newton.

Tuy nhiên, ngày nay chúng ta có thể nói rằng lời tiên đoán ấy, may mắn thay, đã không trở thành sự thật. Nhiều tác giả đương đại được nuôi dưỡng bằng sáng tác của Brodsky, vì thế không thể không đánh giá lại đóng góp của ông đối với văn hoá thế giới.


(Theo nguồn: Рустих сом; Pishi stikhi ru, Анализ стихотворений
Có sự hỗ trợ của ChatGPT)

• “как способность торчать, избежав укола”: “Без укола” — một cách lý giải theo hướng dùng từ lóng trong lĩnh vực nghiện hút. Khái niệm vươn lên cao chỉ trạng thái hứng khởi cao điểm, nhưng không cần sự trợ giúp của mũi tiêm chất kích thích.

• “зачем вся дева, если есть колено”:
– “Колено”: Tượng trưng cho hoạt động tình dục khi đã biến thành kí ức lạnh lùng. Sự ấm áp của cơ thể người được thay bằng hình ảnh thô sơ, cứng nhắc trong trí nhớ.
– Không nhất thiết nói rằng con người thời hiện đại đã “thu hẹp nhu cầu văn hoá”. Nó có thể là một trò chơi mạnh hơn nhiều: toàn thể bị thay thế bằng một bộ phận, giống như những nghịch lý khác trong bài.

• “Что в лампочке — ужас пола”: “пол” có thể là sàn nhà, nhưng trong tiếng Nga còn có nghĩa giới tính. Vì vậy “ужас пола” có thể cố ý tạo ra hai trường nghĩa.

Có ý kiến cho rằng nghĩa thứ hai là nghĩa chính, nó gắn liền với quan niệm siêu hình trong thơ của Brodsky và với biểu tượng về tình dục.

• “любовь, как акт, лишина глагола”: Ở đây “акт” vừa có thể là hành vi, vừa gợi một “động tác/hoạt động”; “глагол” là “động từ”. Cái hay nằm ở quan hệ ngữ pháp:

Tình yêu là một hành động nhưng lại không có động từ.

Tức là tình yêu đã bị biến thành một danh từ, một khái niệm bất động, không còn hành động thực sự.

• “сходя на конус” – “не ноль, но Хронос”: “Хронос” là Chronos, biểu tượng/thần của thời gian. Euclid đại diện cho hình học, cái có tính không gian và trừu tượng; còn khi “đi xuống hình nón”, sự vật không đi tới zero mà đi tới thời gian.

Có thể hiểu rộng hơn: hình học thuần tuý không giải thích được sự tồn tại; khi sự vật đi vào thế giới thực, thời gian xuất hiện.

• Nhìn cả bài, ta gặp liên tục:
“рыба → икра”
“дева → колено”
“лес → полено”
“любовь → глагол”
“вещь → Хронос”
“лист → почка”
“семя → почва”
“луг → поляна”

• “Лес и полено”: Nguồn rừng xanh vĩ đại nhưng không tồn tại muôn đời – rừng có thể bị cháy sạch hay mục nát. Nhưng nếu biến gỗ thành giấy viết, và viết chữ lên giấy thì chữ viết trên giấy hoá bất tử. Trong thế giới của Brodsky, thì một bài thơ in trên giấy (là một phần của gỗ) xét về tinh thần, lại có giá trị quý hơn, cao hơn toàn bộ thế giới vật chất (cả khu rừng).

(Các chú giải đi theo bài thơ này được tôi thu thập và dịch từ nhiều nguồn và chưa đầy đủ. Do cách hiểu thơ Brodsky không hề đơn giản, tôi đành dịch theo các chú giải mình đang có. Hy vọng còn có dịp tìm được thêm các cách chú thích khác hợp lý hơn.)
Ảnh đại diện

“Tôi từng luôn khẳng định rằng số phận là trò chơi...” (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Tôi từng luôn khẳng định rằng số phận là trò chơi.
Rằng cần cá làm gì, khi có rồi trứng cá.
Rằng kiểu Gô tích sẽ thành công, như trường phái,
là khả năng vươn cao, tránh được mũi tiêm.
Nay tôi ngồi bên cửa sổ. Ngoài cửa sổ mọc cây dương.
Tôi yêu ít người. Nhưng yêu thương mạnh mẽ.

Tôi từng cho rằng rừng chỉ là một phần của thanh củi lẻ.
Cần gì nguyên cô gái, khi có đầu gối rồi.
Rằng ta mệt nhoài vì bụi thế kỷ bốc lên hoài,
con mắt Nga chọn đỉnh nhọn Estonhia làm nơi nghỉ.
Nay tôi ngồi bên cửa sổ. Tôi rửa xong bát đĩa.
Tôi từng may mắn ở đây. Và nay chắc không còn.

Tôi từng viết rằng, nỗi sợ của sàn nhà là bóng đèn
Rằng, tình yêu, là hành vi, mất luôn động từ hẳn.
Rằng, Euclid không biết rằng, khi chuyển về hình nón,
sự vật không đạt giá trị không, nhưng có thời gian.
Nay tôi ngồi bên cửa sổ, Nhớ lại tuổi thanh xuân.
Đôi khi mỉm cười, đôi khi nhổ toẹt.

Tôi từng nói rằng, chiếc lá làm hỏng chồi non choẹt
Và rằng hạt giống rơi vào đất trồng bạc màu,
không nảy mầm, rằng đồng cỏ với rừng
là dẫn chứng cho sự thủ dâm, trong tự nhiên luôn tồn tại.
Nay tôi ngồi bên cửa sổ, hai tay ôm đầu gối,
dưới bóng đè nặng chịch của chính mình.

Bài hát của tôi đã mất môtip rồi,
Nhưng vì thế không hoà vào đồng ca nổi.
Không có gì lạ, tôi được thưởng vì các lời hát đó
không ai còn đặt chân họ đứng lên vai mình.
Nay tôi ngồi bên cửa trong bóng tối; giống tàu tốc hành,
biển gào thét bên ngoài tấm rèm như uốn sóng.

Là công dân của thời đại hạng hai chính cống
tôi tự hào thừa nhận đúng hạng hai
bao ý nghĩ tốt đẹp nhất của mình và những ngày tháng nay mai
tôi tặng chúng như kinh nghiệm đấu tranh với nội tình bóp nghẹt
Nay tôi ngồi nơi bóng tối. Và bóng tối trong phòng không hề kém
hơn so cùng bóng tối ở ngoài phòng.


Ảnh đại diện

Lệ rơi (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

“Giọt lệ tròn lăn dài
anh đem đến từ tương lai,
tay anh cài vào nhẫn.
Riêng em thấy được thôi,
nào em đeo nhẫn nhé
ngón không tên, tất nhiên rồi”.
“Trời, với ngườí đàn bà khác,
chồng sẽ tặng nhẫn vàng,
vòng ngọc trai thứ thật.
Anh chỉ có giọt lệ thôi
mang tên thuỷ lam ngọc,
trong nắng sớm, lệ bốc hơi“.
“Em cứ mang chiếc nhẫn,
khi còn thấy từ xa;
có ngày, chọn thứ khác.
Và em chán giữ thêm,
rồi em quên, rơi mất
xuống đáy giếng hồi đêm.”


Ảnh đại diện

Đầu tiên ghế ngồi rơi xuống (Joseph Brodsky): Phân tích bài thơ «Thoạt ban đầu, chiếc ghế rơi xuống vực» của Brodsky

Phân tích bài thơ Thoạt ban đầu, chiếc ghế rơi xuống vực của Brodsky

Tác phẩm Thoạt ban đầu, chiếc ghế rơi xuống vực của Iosif Aleksandrovich Brodsky là một mẫu mực của thơ trữ tình đầy tính phi lý và cay đắng.

Bài thơ được viết năm 1966. Khi ấy tác giả vừa tròn 26 tuổi và đang hết sức phẫn nộ: cuối năm 1965, nhà thơ đã đưa bản thảo tập thơ của mình đến nhà xuất bản. Suốt một năm người ta xem xét, cân nhắc và cuối cùng đi đến quyết định: từ chối xuất bản. Năm 1966 vừa bắt đầu cũng chẳng khá hơn chút nào: chỉ có vài bài thơ ít ỏi được đăng, mà lại là trên các tạp chí dành cho thiếu nhi. Nhà thơ chỉ còn biết năm này qua năm khác làm công việc dịch thuật, nhưng I. Brodsky muốn được xuất bản chính thơ của mình. Đó chính là hoàn cảnh khi ông trở về từ nơi lưu đày hẻo lánh vì tội danh “ăn bám, không lao động”.

Về thể loại, đây là thơ trữ tình lập dị; về nhịp điệu, là thơ nhấn trọng âm, với cách gieo vần chéo; toàn bài chỉ gồm một khổ. Nhân vật trữ tình chính là tác giả. Có thể xem bố cục bài thơ là một bố cục có cốt truyện, bởi chỉ trong 12 dòng thơ mà biết bao sự việc đã xảy ra.

Nhân vật trữ tình lạnh lùng quan sát cảnh cuộc sống đơn sơ của mình sụp đổ. Hơn thế nữa, anh ta còn xoa tay khoái chí và bắt tay vào giúp “vực thẳm” quét sạch tất cả không còn dấu vết. Có lý do để nghi ngờ rằng chiếc ghế cũng không tự nguyện lộn nhào xuống đó.

“Chiếc bàn”: Ở đây là bàn viết — nơi thiêng liêng của bất cứ người làm văn nào. Tất cả những đồ vật quen thuộc — và vì thế đáng tin cậy — quanh nhà thơ đều nhanh chóng biến mất. Chỉ còn lại bản thân anh và những gì nằm trong trái tim.

“Tiếng mẹ đẻ”: Tất cả những quan niệm quen thuộc, đã trở nên sáo mòn, về thơ ca và về thị hiếu tốt đẹp.

“Tấm hình có ảnh cả gia đình”: Rất có thể gia đình không hề đứng hẳn về phía nhân vật trữ tình, mà khuyên anh nên ổn định, nên thay đổi. Thậm chí có người còn hoàn toàn quay lưng lại với anh. Đồ đạc mất đi vẫn chưa phải là tất cả — cứ để cả những bức tường cũng sụp xuống.

“Chỉ còn lại anh và áo khoác”: Quả thật, áo khoác là thứ cần thiết, ngay cả khi anh không còn gì khác. Không có áo khoác thì làm sao ra đường được.

“Chào tạm biệt, em yêu”: Người phụ nữ được yêu của nhà thơ, M. Basmanova. Quan hệ giữa họ vốn không êm ả.

“Hãy tháo chiếc nhẫn ra”: Một yêu cầu rất thực tế của nhân vật trữ tình, người đang rộng lòng cắt đứt mọi ràng buộc để không làm người mình yêu bị vướng bận, không phủ cái bóng đáng hổ thẹn của mình lên nàng.

“Tin tức Thời trang”: Quả thật, đã đến lúc phải ăn mặc chỉnh tề hơn và nói chung phải có một dáng vẻ đáng kính trọng hơn. Nhưng không có anh.

“Và có thể nhổ vào mặt nó ngay, kẻ chiếm chỗ của anh ở đó.”: Nhân vật trữ tình hoàn toàn không phải đã hết yêu; anh chỉ nhờ người yêu vui lòng chuyển hộ cái nhổ của mình tới kẻ mới sẽ đến cầu hôn M. Basmanova.

Có thể cuộc “thanh lý” này diễn ra trong lúc nóng giận, nhưng trong khoảnh khắc ấy, nhân vật trữ tình cảm thấy như vậy dễ chịu hơn, thậm chí vui hơn. Thực chất, đây là một cuộc chiến đấu trong ý nghĩ với hoàn cảnh. Các đồ vật vẫn ở nguyên chỗ cũ. Toàn bộ bài thơ từ đầu đến cuối đều mang tính ẩn dụ.

Ngữ điệu của bài thơ là ngữ điệu liệt kê. Có thủ pháp đảo trật tự từ: giường đổ xuống, ghế rơi xuống. Điệp khúc: “rồi sau đó” (потом).

Sau khi trở về từ vùng Arkhangelsk, nơi ông bị đưa tới theo quyết định của toà án, I. Brodsky đã vấp phải một bức tường im lặng và không thấu hiểu. Về thực chất, sáng tác của ông bị đặt vào tình trạng gần như bị cấm đoán.


(Theo nguồn: Рустих.ру; Pishi stikhi.ru: анализ стихотворений
Có sự hỗ trợ của ChatGPT.)
Ảnh đại diện

Đầu tiên ghế ngồi rơi xuống (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Thoạt ban đầu, chiếc ghế rơi xuống vực,
rồi tiếp theo, đến lượt chiếc giường,
rồi kế sau là bàn viết. Chính mình
Tự đẩy xuống. Anh không thèm giấu diếm.
Sau rồi sách giáo khoa “Tiếng mẹ đẻ”,
rồi bức hình có ảnh cả gia đình.
Rồi đến lần bếp với bốn bức tường
Chỉ còn lại anh cùng áo khoác.
Chào tạm biệt, em yêu, em tháo ngay nhẫn trước
hãy đặt mua tin tức thời trang.
Và có thể nhổ vào mặt nó ngay
kẻ chiếm chỗ của anh ở đó.


Ảnh đại diện

Những quả đồi (Joseph Brodsky): Phân tích bài thơ “Những quả đồi “của Brodsky

Bài thơ Những quả đồi của I. Brodsky lần đầu tiên được ông đọc trước công chúng vào năm 1962 tại “Quán cà phê Văn học”. Trong tác phẩm, nhà thơ kín đáo ám chỉ sự bất mãn của mình đối với hiện thực xung quanh. Hiện chưa xác định chính xác liệu đằng sau hình tượng “hai người” có phải là những nhân vật cụ thể hay không. Có lẽ, đây chỉ là một biểu tượng.

Chủ đề chính của tác phẩm là sự đối kháng giữa sự sống và cái chết. Quả đồi nơi hai người ngồi tượng trưng cho sự thoát ly khỏi thực tại, cho trạng thái tinh thần cao cả. Về sau, Brodsky sẽ tiếp tục phát triển đề tài về sự cô đơn vĩnh viễn, về sự không thể chấp nhận đời sống thường nhật.

Trong bài thơ đang được xem xét, hai người thường thích tìm đến chốn riêng tư trên một ngọn đồi. Khi lên tới đó, họ cảm thấy mình hoàn toàn tự do và có thể bình thản, không thiên kiến nhìn nhận cuộc sống của những người khác. Quang cảnh hiện ra trước mắt họ chẳng mấy hấp dẫn: “vài người tàn tật chờ xe tải”, “con quạ bay lượn và kêu”. Từ đây xuất hiện sự đối lập đầu tiên giữa những ngọn đồi và đồng bằng, nhưng lúc này vẫn chưa mang màu sắc bi kịch.

Nốt nhạc bất an đầu tiên vang lên trong câu:

Ai chả biết chuyện là như thế,
riêng cặp đôi không để ý chuyện trên.
Nảy sinh ý nghĩ rằng những lần lên đồi vô hại, với những niềm vui rất đỗi bình thường của con người (“đầu thuốc thừa, thìa nĩa với que diêm… và chiếc chai”) đã khiến ai đó không chấp nhận, thấy khó chịu.

Biến cố khủng khiếp xảy ra vào ngày trong thành phố người ta tổ chức hai đám cưới. Như thường lệ, hai người theo những lối khác nhau rời ngọn đồi. Họ không hề ngờ rằng mình sẽ gặp những kẻ giết người. Sự không thể tự vệ của các nạn nhân được nhấn mạnh bởi chi tiết một người chết “vì tim vỡ”. Lần cuối cùng đôi bạn gặp nhau là ở đáy một cái ao phủ đầy cây cỏ. Tin về vụ giết người làm cả thành phố náo loạn và thô bạo chấm dứt ngày hội của hai gia đình.

Tác giả không gọi tên những kẻ sát nhân, bởi đối với ông điều đó không quan trọng. Hai người bạn chết một cách bạo lực vì hành vi của họ không phù hợp với những khuôn mẫu của giới thị dân. Có thể thấy rằng vụ giết người đã được toan tính từ lâu. Việc hai người bạn phớt lờ ngày hội chung của cả thành phố đã làm đầy tràn chén nhẫn nại của những kẻ vẫn theo dõi họ.

Brodsky không che giấu thái độ phủ định của mình đối với đám đông người vô danh, xám xịt. Đối với ông, ngọn đồi là hiện thân của sự sống và cá tính rực rỡ. Còn thành phố, với tất cả những thuộc tính thô bạo và vô hồn của nó (“tất cả những chiếc xe, nhà tù”, “những kính mờ trong nhà tắm”) là cái chết và một sự tồn tại bị tước bỏ cá tính.

Tác giả mỉa mai truyền đạt lời của những cư dân thành phố:

Chẳng bao giờ chúng ta sẽ lên đồi nữa.
Mọi cố gắng nổi bật, tách khỏi đám đông, vươn lên vượt trên đám đông, tất yếu sẽ kết thúc bằng cái chết. Tốt hơn hết là đừng thách thức số phận mà hãy khuất phục trước những đòi hỏi của xã hội.

Ở phần kết của tác phẩm chứa đựng tư tưởng chủ yếu của Brodsky. Ông miêu tả những ngọn đồi bằng những khái niệm sâu kín nhất, tượng trưng cho chính sự sống: “tuổi trẻ”, “nỗi đau và lòng kiêu hãnh”, “tình yêu”. Những đỉnh đồi kiêu hãnh hiện lên “giữa màn đêm đen đặc”, còn đồng bằng — biểu tượng của cái chết — thì chìm ngập trong bóng tối.

Như vậy, sự đối lập “những ngọn đồi — đồng bằng”, xét theo ý nghĩa triết học, tương ứng với sự đối lập “sự sống — cái chết”. Nếu đặt vào hiện thực Xô viết, đằng sau những biểu tượng ấy là mâu thuẫn giữa một cá nhân quyết giữ tính độc lập trước cuộc sống phải tuân theo sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản.


(Theo nguồn: Рустих.ру; Pishi stikhi.ru: анализ стихотворений.
Có sự hỗ trợ của ChatGPT)
Ảnh đại diện

“Tôi dựng cho mình một tượng đài kiểu khác!...” (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Tôi đã dựng cho tôi tượng đài khác
Lưng quay lại trăm năm ô nhục, đớn hèn
Mặt nhìn về tình yêu mình đã mất
Và ngực ưỡn ra như bánh xe đạp tròn
Còn mông hướng về biển chứa toàn nửa sự thật.

Dù quanh tôi là quang cảnh có thế nào,
dù tôi phải xin lỗi ra sao đi nữa,-
tôi sẽ không đổi thay bộ dạng mình.
Tôi thấy hợp chiều cao và dáng đứng.
Sự mệt mỏi dẫn tôi đến chỗ này.

Xin nàng Thơ, đừng trách móc tôi ngay
Bây giờ lý trí của tôi như cái dây lọt nước,
Chứ không phải cái bình các thần đã rót đầy.
Cứ để người đời hạ bệ và giật tôi đổ xuống,
Cứ để họ quy tôi tội tự tác tự tung,
Mặc họ phá tan hoang, làm nát tượng

Trong một đất nước rộng lớn bao la,
tôi giúp vui cho đám trẻ, từ tượng thạch cao trong sân
xuyên qua đôi mắt mù loà, trắng rã
tôi phun dòng nước bắn ngược lên trời cao.


Ảnh đại diện

Tượng đài (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Ta hãy dựng tượng đài
ở cuối đại lộ dài trong thành phố
hay ở trung tâm quảng trường rộng rãi
một tượng đài
sẽ hoà nhập vào bất kì khối kiến trúc nào,
Vì rằng tượng sẽ
có tính kiến tạo không nhiều và rất cao hiện thực.
Ta hãy dựng tượng đài,
tượng không phiền hà đến ai cả.

Ngay dưới chân tượng
ta sẽ đánh đất trồng một luống hoa
và nếu các vị đứng đầu thành phố ta cho phép,-
một vườn hoa nhỏ bé, xinh xinh
và con cái chúng mình
sẽ nheo mắt lại để nhìn cho tỏ
mặt trời to béo, màu hồng
cứ chấp nhận trên bệ tượng
là triết gia được công nhận,
nhà sáng tác nhạc
hay một vị tướng quân.

Ngay bên bệ tượng đài, - tôi cam đoan, -
sáng sáng sẽ có người
đem hoa đến đặt.
Ta hãy dựng tượng đài
sẽ chẳng gây cản trở cho ai.
Ngay các vị lái xe
sẽ ngắm nghía hình oai nghiêm của bức tượng.
Trong vườn hoa nhỏ
sẽ là chỗ hẹn hò.
Ta hãy dựng tượng đài,
chỉ lướt ngang qua, ngày ngày mải mốt đến chỗ làm,
quanh bên tượng,
toàn khách nước ngoài chụp ảnh.
Bạn đêm, ta sẽ chiếu đèn pha từ dưới lên cao

Ta hãy dựng tượng đài vinh danh dối trá.


Ảnh đại diện

“Chẳng từ đâu, chào yêu thương…” (Joseph Brodsky): Phân tích bài thơ [i]Chẳng từ đâu, chào yêu thương[/i] của Brodsky

Bài thơ Chẳng từ đâu, chào yêu thương nằm trong chùm thơ Các phần của lời nói (Части речи), mà Iosif Brodsky sáng tác trong những năm 1975–1976, khi đang sống lưu vong. Nhiều người từng chỉ trích thơ tình của Brodsky là cố ý dàn đặt, thậm chí có phần phô diễn, lạnh lùng; tuy nhiên, khó có thể gọi tác phẩm này là như vậy.

Ngay từ những câu đầu, tác giả đã biến bài thơ không chỉ thành một văn bản có vần, mà còn gợi người đọc liên tưởng đến truyền thống thể loại thư từ. Điều đó làm cho tác phẩm thêm phần sâu lắng và có sức lay động đặc biệt. Trong khi cụm từ thường được đặt ở cuối một bức thư — “с любовью” (chào yêu thương/chào thân ái) — thì ở Brodsky, nó lại trở thành một kiểu nhan đề. Toàn bộ văn bản là một thử nghiệm, một sự thách thức đối với những chuẩn mực thông thường. Và chính câu nói này, cả chùm thơ bắt đầu.

Hình ảnh “ниоткуда” (chẳng từ đâu/từ một nơi không xác định) vang lên như một không gian bất định nhưng đồng thời lại hết sức rộng lớn, có thể là bất cứ nơi nào — “nơi thị trấn tuyết phủ cao ngang tay cửa đứng”, “sau bao dãy núi dài vô biên, bao la rộng trải”. Nhân vật trữ tình dường như bị tách khỏi thế giới thực và không thể xác định chính xác vị trí của mình trong thế giới ấy.

Giọng điệu bài thơ chập chờn, đứt nối, như thể đang bị kích động. Số lượng từ trong mỗi câu liên tục thay đổi. Tuy nhiên, đến cuối bài, giọng kể lại trở nên bình tĩnh, đều đặn; và cơn điên loạn cảm xúc ngày càng dâng cao của nhân vật trữ tình cũng đạt tới một sự hoàn tất nhất định. Trong cơn cuồng si yêu đương tuyệt vọng và quên mình, nhân vật trữ tình đi đến điểm gọi là điên loạn:

…trong bóng đêm, dùng hết thân thể mình diễn lại đường nét của em, như chiếc gương điên khùng.
Trạng thái cảm xúc của nhân vật trữ tình còn được gợi ra bởi tên tháng xuất hiện ngay ở đầu bài — “ngày mười nào đó.. tháng Ba” (надцатого мартобря). Đây là một ám chỉ đến Nhật ký của một người điên (Записки Сумасшедшего) của Gogol, trong đó có một bức thư được cho là viết vào ngày 86 tháng Ba.

Nhân vật trữ tình chìm sâu vào những cảm xúc của mình đến nỗi từ bỏ cả đức tin, và trở nên tách biệt khỏi tất cả cùng một lúc — cả đối tượng của tình yêu lẫn “Đấng Tối cao” (Бога). Trong bài thơ này có tất cả — nỗi đau, sự xa cách, cô độc, và cả một loạt cảm xúc chân thành rối bời, vừa đẹp đẽ nhưng đồng thời cũng có sức huỷ diệt.

Iosif Aleksandrovich Brodsky hoàn toàn xứng đáng được coi là một trong những gương mặt thi ca nổi bật nhất của thế kỷ XX. Sáng tác của ông mang tính cách tân cả về chiều sâu ý nghĩa, lẫn những chuẩn mực được chấp nhận trong thể thơ và ngôn ngữ nói chung. Sự đa dạng về phương diện, sự pha trộn các thể loại, tính ẩn dụ đầy sức lay động — tất cả những điều đó làm cho thơ Brodsky trở nên khó quên và độc đáo.


(Theo nguồn: Рустих.ру; Pishi stihi.ru: Анализ стихотворений.
Có sự trợ giúp của ChatGPT)

Trang trong tổng số 142 trang (1420 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: