Trang trong tổng số 142 trang (1414 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Tình yêu (Joseph Brodsky): Phân tích bài thơ Tình yêu của Brodsky

Phân tích bài thơ “Tình yêu” của Brodsky

Joseph Brodsky đã viết rất nhiều tác phẩm về tình yêu. Phần lớn trong số đó đều dành cho một người phụ nữ duy nhất – nhân vật bí ẩn được ông gọi bằng hai chữ cái “M.B.”. Trong số ấy có bài thơ “Tình yêu”, sáng tác năm 1971, một trong những tác phẩm huyền bí và khó nắm bắt nhất của ông. Trong bài thơ này, Brodsky hướng về mối tình định mệnh của cả cuộc đời mình – Marina Basmanova, người phụ nữ mà nhiều năm sau cuộc chia tay đầy bi kịch vẫn luôn là nàng thơ của thi sĩ.

Toàn bộ sáng tác của Brodsky đều mang tính tự truyện và gắn chặt với những trải nghiệm cá nhân của ông. “Đêm hôm qua anh thức dậy hai lần và dò dẫm đến bên cửa sổ” – bài thơ mở đầu như vậy, khi tác giả hướng lời mình tới giấc mơ không thành, tới hạnh phúc đã bị đánh mất.

Marina Basmanova – một cô gái đẹp, ít nói và đầy bí ẩn – từng là vị hôn thê của Brodsky, nhưng rồi bất ngờ rời bỏ ông để đến với người bạn của ông là Dmitri Bobyshev. Cô ra đi không một lời giải thích, và đối với Brodsky, đó là một mất mát quá lớn; ông không thể chấp nhận cũng không thể vượt qua trong suốt nhiều năm sau đó. Ông tìm kiếm hình bóng của Marina trong nhiều người phụ nữ khác, nhưng không bao giờ tìm thấy; tất cả những bài thơ của ông đều hướng về cô. Đó là một tình yêu đau đớn, ám ảnh và chiếm trọn con người ông. Bảy năm sau cuộc chia tay, ông viết những dòng thơ:

Anh mơ thấy em có thai, và như thế
Sống ngần ấy năm với em trong xa cách,
Và biết mình lầm lỗi, với bàn tay
Sung sướng xoa lên khắp bụng em ngay,
Thực ra đang đi tìm quần và công tắc chứ.

Năm tháng đã trôi qua, biết bao biến cố xảy ra trong đời ông, nhưng Brodsky vẫn không thôi nghĩ đến điều rằng lẽ ra họ đã có thể hạnh phúc biết bao:

Trong bóng tối, chuyện bị cắt ngang vì ánh sáng,
vẫn diễn ra tiếp tục, bình thường.
Khi ấy ta là vợ chồng, có cưới hỏi đàng hoàng,
Ta là quái vật dính hai lưng, còn các con có mặt
Chỉ biện minh cho việc ta mình trần như nhộng.

Tác giả miêu tả những giấc mơ hoà lẫn với hiện thực. Trong đêm được kể lại trong bài thơ, ông gần như không còn phân biệt được đâu là mơ, đâu là đời thật. Bầu không khí của tác phẩm nặng nề, u uất, còn sự đan xen giữa cái cụ thể và cái biểu tượng càng làm tăng thêm tính bi kịch. Ngay từ những dòng đầu, trước mắt người đọc đã mở ra một thực tại kép, một thế giới hai tầng mang màu sắc lãng mạn: ở một thế giới, nhân vật trữ tình đang sống hạnh phúc bên người mình yêu và họ cùng chờ đón một đứa con; còn ở thế giới kia là nỗi đau của tình yêu không được đáp lại, là bóng tối và sự tuyệt vọng không còn mong đợi gì vào tương lai. Mối tình không thành trong đời thực sống lại trong suy nghĩ và những giấc mơ của nhân vật: ở đó ông có thể tưởng tượng bất cứ kết cục nào mình muốn, có thể trốn khỏi hiện thực.

Điều thú vị là Brodsky gợi nhắc đến vở “Othello” của Shakespeare khi nhắc tới hình ảnh “sinh thể hai lưng dính liền” (двуспинное чудовище), qua đó cho thấy bản chất của tình yêu từ thời Shakespeare đến nay vẫn không hề thay đổi. Việc ông dùng số nhiều cho hình ảnh ấy cho thấy trên đời có vô số “quái vật đang yêu” như thế.

Tác giả sử dụng hình tượng công tắc điện, một chi tiết vừa như chiếc cầu nối với hình bóng người yêu, vừa là lời nhắc nhở rằng họ không bao giờ có thể thực sự đến được với nhau trong hiện thực. Phần kết của bài thơ được dành cho một giấc mơ không thể thành: nhà thơ tưởng tượng rằng sẽ có ngày người phụ nữ ông yêu hiện về với đứa con trên tay, và khi ấy nhân vật trữ tình sẽ đưa ra lựa chọn của mình:

“…Anh sẽ không giật mình đưa tay gần công tắc lần tìm,
Và không thu tay lại, vì anh chẳng có quyền
Bỏ mẹ con em trong vương quốc bóng người im lặng,
Không nói gì trước hàng rào ngày tháng,

Bài thơ “Tình yêu” được viết bởi một con người coi tình yêu là điều quyết định, là ý nghĩa trung tâm của số phận; toàn bộ hướng đi của cuộc đời ông đều phụ thuộc vào nó. Chính Brodsky từng nói về cuộc chia tay với Basmanova và những hậu quả của nó như sau: “Tất cả sức lực tinh thần của tôi đều dồn vào việc vượt qua nỗi bất hạnh ấy.”

Chỉ câu nói đó cũng đã nói lên tất cả. Không phải thời gian bị lưu đày, không phải sự đàn áp của chính quyền hay việc bị trục xuất khỏi đất nước, mà chính sự phản bội của người phụ nữ ông yêu mới là hòn đá cản đường lớn nhất trong đời Brodsky. Biến cố ấy đã để lại một vết hằn sâu đến mức từ nó đã ra đời một trong những tác phẩm xuất sắc nhất về tình yêu đơn phương trong thơ ca Nga.
(Theo nguồn: Ru stikh.ru, литрекон; литературу.ру.
Có sự hỗ trợ của ChatGPT)


Ảnh đại diện

Tình yêu (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Đêm hôm qua, anh thức dậy hai lần,
Dò dẫm tìm cửa sổ, thấy ánh đèn ở đó,
Những từ rời rạc nói trong mơ ngủ,
Như dấu ba chấm không ghép đủ ý chung,
Không giúp anh chút an ủi trong lòng.
Anh mơ thấy em có thai, và như thế
Sống ngần ấy năm với em trong xa cách,
Và biết mình lầm lỗi, với bàn tay
Sung sướng xoa lên khắp bụng em ngay,
Thực ra đang đi tìm quần và công tắc chứ.
Khi lần ra cửa sổ, Anh biết anh để em lại một mình ở đó,
Trong bóng tối của giấc mơ em vẫn kiên gan
Đợi chờ và không hề đổ lỗi cho anh,
Mỗi lần anh trở về, khoảng xa nhau cố ý.
Trong bóng tối, chuyện bị cắt ngang vì ánh sáng,
vẫn diễn ra tiếp tục, bình thường.
Khi ấy ta là vợ chồng, có cưới đàng hoàng,
Ta là quái vật dính hai lưng, còn các con có mặt
Chỉ biện minh cho việc ta mình trần như nhộng.
Ước một đêm nào đó ở tương lai,
Em lại quay về trông mệt mỏi, mảnh mai,
Và anh được gặp con trai hay con gái,
Con chưa được đặt tên và khi đó
Anh sẽ không giật mình đưa tay gần công tắc lần tìm,
Và không thu tay lại, vì anh chẳng có quyền
Bỏ mẹ con em trong vương quốc bóng người im lặng,
Không nói gì trước hàng rào ngày tháng,
Đang lệ thuộc vào hiện thực chung quanh,
Do việc anh không thể có mặt bên em.


Ảnh đại diện

VI (Nikolai Nekrasov): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Chỉ ai giỏi giang mới sống sót.
(Trích anh hùng ca cổ của Nga)


Không phải cây lau cao gió đung đưa,
Không phải rừng sồi lá rung xào xạc,
Mà là tiếng chàng trai can trường huýt sáo,
Dưới chân đi, nghe tiếng gẫy cành khô.
Chú chó con cổ mang vòng hiện ra,
Rồi xuất hiện chàng trai quả cảm:
“Lên đường bình an, ơi các chàng buôn bán!”
- Anh chàng bắn súng, Thượng lộ bình an,
“Sao anh nhìn tôi thế, có phải anh? -
Hôm trước ở Truba, anh có mặt,
Tôi đã hỏi anh chuyện tìm đường đất?
“Không phải rồi, chắc bác nhìn nhầm.
Đã ba ngày, tôi chẳng về nhà một lần,
Làm kiểm lâm ở nhà là hiếm lắm,
“Nhưng có lẽ khuôn mặt này quen thật”, -
Vanka nói thầm với ông già.
“Hai bác cháu nói gì?” - Chúng tôi tự trách mình mà,
Đáng lẽ chọn đường núi là hơn cả,
Anh bạn trẻ, ta đang đi về phía
Kostroma chứ? - “Thế thì ta cùng đường,
Tôi ở làng Shunya” - còn xa không
Đường đến chỗ ngôi làng anh ấy? -
“Khoảng mười hai dặm cả thẩy.
Hai vị chia nhau lời lãi nhiều không?”
- Nếu anh muốn biết chi tiết tận cùng,
Thì hàng ế chúng mình tha về tất cả. -
Tay kiểm lâm bật cười nghe ha hả!
“Ông bác ơi, tôi thấy, bác giỏi bịa rồi!
Nếu ế hàng, chở hết về nhà thôi,
Chim sẻ cụ, sao ông đi thoăn thoắt!”
Và người kiểm lâm đưa vai thử nhấc
Số gùi hàng của hai bác bán rong.
Ôi gùi hàng nhẹ bẫng, nhẹ tênh,
Hẳn hai bác cháu đều cùng bán sạch?
Lũ chim sẻ đã ăn no kễnh bụng,
Giờ lo bay về tìm chỗ nghỉ ngơi!
- Liệu ta về kịp được làng tối nay? -
“Thì phải cố, về đến nơi, bạn trẻ,
Tôi mệt quá, chân đang như rời rã -
Lại còn mang súng nặng chịch trên vai.
Công việc kiểm lâm chẳng có gì vui,
Suốt ngày đêm lang thang nơi rừng suốt”
Rồi tháo khỏi vai súng hai nòng xuống
Và lăm lăm cầm súng nằm ngang,
“Ôi khẩu súng hai nòng thật thân thương!
Súng ống gì mang hai tay nặng chịch“
Hai người bán rong liếc mắt nhìn tắp lự
Về phía khẩu súng có hai nòng:
Trên đó, dây quấn chặt nhiều vòng!
Khe hở khoá, cả ngón tay cùng lọt,
- Này anh bạn, súng này bắn được thật?
“Xa bảy mươi bước, bắn trúng đích liền“
Chắc ngày xưa, anh thợ mộc ở làng
Đẽo báng súng làm vội vàng, cẩu thả!
Mà chính anh thợ săn của Chúa
Cũng nhỏ người, yếu ớt, gầy gầy,
Quần áo anh ta trông sũng nước rồi,
Ướt đến tận ngang lưng người hiện rõ
Râu để rậm trông bùng nhùng từng búi
Dây lưng không, sợi vỏ cây tạm dùng.
Thế mà đi cạnh có cả chó đeo vòng!
Tên chó là Ur ưp - Ma cà rồng đấy chứ,
Hai anh bán rong cùng cười thích thú:
“Ôi người hùng khốn khổ của chúng tôi!”

Họ đi một hai giờ nữa, sắp tới nơi?
“Cũng gần đến”, bên cạnh sông, anh sao vậy?
“Lũ gà gô mái cục ta cục tác đấy”,
Chàng kiểm lâm chọn cò súng đưa ngón tay lên.
“Ôi gà mái! tiếng chát chúa vang rền,
Dù là gấu, tay ta liền hạ sát!
Sao hai bác cháu cùng nhau im thít?
Hát một bài cho khí thế bốc hơn!”

Nhưng hai người chẳng tâm trạng nào còn:
Trời chuyển tối dần dần thành đen sẫm,
Trên đầm lầy, sương lam phủ kín,
Màn sương đêm bắt đầu sa xuống từ từ,
- Đi suốt ngày, bảo hát thì ai muốn giờ,
Sao chính anh không gào lên tiếng hát…
Ơ kìa, cậu nhằm ai? định bắn?
“Chẳng nhằm ai. Chỉ là ngắm chơi chơi…”

Trời sắp mưa? Có phải mưa đến gần rồi,
Mây trên trời hình dáng bò con qua lại,
Trời dần tối, đêm sẫm đen mênh mang mãi,
Nhóm đàn ông rảo thêm bước nhanh hơn.
Con chó chạy phía bên, mũi không ngớt đánh hơi,
Luôn phát hiện bóng thú rừng nơi gần đó.
Kìa! nghe vang tiếng của đại bàng, chim cú,
Kìa! cú nhỏ rên lên như con nít nỉ non.
Ông già liền kín đáo nhìn sang:
Viên kiểm lâm như run lên bần bật.
- Hay cậu bị sốt rét đang cơn đánh vật? -
“Thì đúng là, ba tuần nay sốt hành hạ tôi rồi -
Nhờ bác chữa!”, - chính hắn nhằm súng vào người,
Định ngắm thẳng vào Vanka chắc chắn.
Ông già Tikhonưch cau mày cáu gắt:
- Cậu định đùa trò gì! - ông lão nói to. -
Đùa thế này định để làm gì kia,
Chi bằng hát luôn bài ca lại tốt.
Khoan, hãy đợi thêm qua nửa phút -
Tôi hát lên bài hát thật ngang tàng!
Tôi từng quen một ông già mắt đã như loà,
Suốt đời bên mình kè kè bị gậy
Đã sáng tác về người ăn xin phiêu bạt
Một bài ca lời hát khá dài.
Ông không chết vì già, không vì đói ăn,
Mà ông chết dưới một con kênh nước,
Ngay từ trẻ, ông sống trong nhung lụa suốt
Ông vốn là người tốt, bình thường
Người trong vùng vẫn nhớ đến ông.
Nhưng số phận trêu ngươi ông quá đáng:
Do nhầm lẫn, các viên hội thẩm toà án
Đã tống ông vào tù chẳng lí do;
Trát đúng ra phải đến làng Spirdov cơ
Để triệu tập ông Tít Kudmich,
Họ viết lỗi thành làng Đa vư đôv
Bắt tù anh thợ dệt Titushka!
Nạn nhân mòn mỏi đợi chờ “Không biết nay hay mai
Ta được thả về vùng trời tự do thực?
Và kết cục, vụ án rồi kết thúc,
Thế mà chẳng có bản án cho anh,
“Này vợ ơi! tôi hết chịu nổi thêm.
Mình hãy gặp các quan trên lần nữa!
Mắt tôi sẽ khô cạn không còn lệ đổ
Thì làm sao tôi dệt vải được đây?”
Nhưng Stepanushka đâu còn nghĩ đến chuyện này:
Từ lúc ấy, không ai nhìn thấy
Thị lai vãng đi thăm chồng mấy.
Thị ngã bệnh chăng, hay đã bỏ đi -
Tít không hề biết có chuyện gì.
Độ mười hai năm trôi đi như thế -
Rồi người ta triệu ông lên toà để
Trước gương Dersalo, vị đại diện cho toà
Một người trông trẻ tuổi ngồi kia.
Khoác phẩm phục oai phong, nghiêm chỉnh
Anh ta đọc cho Tít nghe quyết định.
Bảo ông kí biên nhận ngay
Rồi thả ông về hẳn trong ngày
Ông được thả - về nhà ngay tìm vợ!
“Tôi tội gì, mà đồ quạ đen quý vị,
Mổ cho tôi bị lòi cả mắt ra?”
Người xin lỗi là chính vị quan toà:
- Mong anh tha lỗi, với tấm lòng rộng lượng!
Đúng là tự nhiên anh bị án oan uổng,
Chúng tôi đã quên biến mất anh! -
Tít về quê. Không ai cầy cấy ruộng nương,
Ngôi nhà cũ trông tan hoang, đổ nát,
Vợ bán sạch cày bừa lưỡi hái,
Cả khung cửi, và cả áo quần,
Rồi chạy theo một địa chủ do phải lòng,
Và tìm đến Kostroma sinh sống.
Thế là miền quê ông yêu dấu
Nay thành nơi ông không muốn quay về.
Ông nhổ toẹt! Không biết sớm, bị bất ngờ,
Quyết định sống lơ vơ, vô định.
Trên đường viết một bài ca tâm sự,
Kể lại điều suy nghĩ của mình.
Và ông già nói rằng:
“Cả bài hát, thực ra hai dòng lặp lại,
Và hát lên kéo thành dài mãi!
Và bài ca đầy trí tuệ này
Ai hát xong phải là người
Đi xuyên nước Nga thời Chính thống giáo,
Trải ngang dọc quê hương đất nước
Chính kẻ theo Chúa suốt hành hương này
Cũng chưa hát xong - đã yên giấc ngàn thu ngay.
Nào hoà giọng vào, chàng trai trẻ!
Hãy cất bước tiến lên trước nhé! -

BÀI CA NGƯỜI LỮ KHÁCH GIAN TRUÂN

Tôi qua đồng cỏ, gió rít từng cơn:
Trời lạnh giá, lữ khách ơi, lạnh buốt,
Trời lạnh băng, người thân hỡi, giá băng!

Tôi qua núi rừng - thú đang gầm rú:
Bụng đói ăn, ơi lữ khách, đói giơ xương,
Sao mà đói, người thân ơi, đói lắm!

Tôi đi qua cánh đồng - sao cây lúa yếu gầy:
Vì giá rét, lữ khách ơi, vì rét buốt,
Vì rét run, người thân hỡi, rét triền miên!

Tôi đi ngang đàn gia súc, trông chúng sao còm cõi?
Vì đói ăn, ơi lữ khách, đói giơ xương,
Vì đói quá, ơi người thân, vì quá đói!

Tôi vào làng, này bác nông dân, bác thấy ấm không?
Lạnh rét lắm, lữ khách ơi, lạnh giá lắm,
Lạnh giá băng, người thân hỡi, rét thấu xương!

Tôi vào làng khác, này anh nông dân, anh ăn uống ngon không đấy?
Đói vô cùng, ơi lữ khách, đói run người,
Đói vàng mắt, ơi người thân, đói lắm!

Tôi vào làng thứ tư, này bác nông dân, sao anh đến cửa hàng rượu à?
Vì đói quá, lữ khách ơi, vì đói quá,
Vì đói run, người thân hỡi, tại đói kinh người!

Tôi lại ra đồng cỏ, nghe gió rít từng hồi:
Trời lạnh giá, lữ khách ơi, lạnh buốt,
Trời lạnh băng, người thân hỡi, giá băng!

Tôi lại qua núi rừng - tiếng muôn loài gầm rú:
Bụng đói dài, ơi lữ khách, đói vô cùng,
Đói vàng mắt, người thân ơi, đói lắm!

Tôi lại qua cánh đồng, -
Tôi lại qua đàn gia súc, -
V.v…

Miệng ông hát, còn mắt liếc nhìn:
Viên kiểm lâm không rời một phút
Lúc ướm lên vai khẩu súng,
Khi ngón tay cứ cò súng mân mê.
Thật không may, chẳng thấy có một ai!
“Hát với chả hò… Ôi, giỏi thế!
Sao tụt lại sau? Anh nhắm vào ai nhỉ?
Anh định làm gì, đồ mất dậy này!”
- “Lũ nhát gan, các người đớn hèn thay!
Và viên kiểm lâm bật cười ha hả
(Còn mắt nhìn lại càng hoang dã!)
“Xấu hổ thay,! - lão Tikhonứch nói ngay. -
Nỡ lòng nào doạ dẫm người qua đây
Người như mày đáng xấu hổ?
Đã vậy tôi còn định bán rẻ
Cho hắn mua một ít vải thô!”
Viên kiểm lâm không chịu dừng cho,
Cứ múa may lung tung cùng khẩu súng,
Tiếng gã cười nghe sao ngớ ngẩn
Vọng lại thành tiếng rú, tiếng gầm.
“Này thôi đi! mày làm cái trò gì? -
Vanka lên tiếng. - Tao đang nín nhịn hết.
Nhưng nếu ra tay, chúng mày chỉ có khóc cạn nước mắt,
Một đòn đấm vỡ quai hàm ngay!
Đã gặp bọn tao trên đường này,
Thì phải tử tế, dẫn ngay đến nơi đến chốn”.
Còn gã kiểm lâm lại nhằm súng ngắm.
“Đừng có đùa!”! - “Giỡn với đùa gì!” -
Hai người bán hàng rong vội giật lùi,
Lạy Chúa - Thần chết vừa hay tới!
Gần như trong cùng một lúc
Hai nòng súng bật nổ vang.
Vanka đổ vật ra, không kịp nói năng,
Ông lão hét lên, sau ngã xuống…

Trong quán rượu, gã kiểm lâm quấy lộn
Đang ồn ào giọng cố khoe khoang.
«Mời anh em Chính thống giáo, uống đi! uống nhanh!
Các bạn ạ, hôm nay, ta là người giàu có!
Ta đã gặp hai con chim béo bở
Lọt ngay vào tầm súng của ta!
Bao nhiêu vàng, bao nhiêu bạc có mà,
Còn vô thiên lủng nhiều thứ nữa
Trời đã tặng! “Nhìn mà xem, gã giỏi quá,
Quả đúng là, một núi bạc trong nhà.
Họ nói thêm vài lời khích gã hăng ra
Gã tiết lộ gần hết ngay sự thật
Thật không may cho y, đồ súc vật,
Trong đầm lầy, có người chăn gia súc qua đường
Tai nghe rõ tiếng súng hai nòng,
Rồi tiếng thét… “dừng thôi, khai tội hết!…”
Chính quyền xã và bên quản lý rượu đã đến
Ngay tức thì tại chính địa phương.
Gã kiểm lâm tay bị trói ngoặt sau lưng.
“Ông trói tôi, thì trói luôn cho kỹ,
Chỉ có điều đừng chạm đến băng quấn chân nhé!”
- Thế thì mau cởi ra cho khám đã nào!”
Họ nhìn vào đống vải quấn chân đều
Nơi giấu cục tiền phải gần ngàn rúp -
Nào bạc, nào tiền giấy nằm từng xấp.
Sáng hôm sau báo toà biết bắt đầu
Nhân viên toà điều tra lại mọi điều
(Chỉ có tiền tang vật giờ đâu, không thấy!)
Những người chết đều mang đi chôn cất,
Gã kiểm lâm bị áp giải tống vào tù…


Ảnh đại diện

“Đừng ra khỏi phòng, đừng phạm sai lầm...” (Joseph Brodsky): Chú thích

CHÚ THÍCH

Босса-Нова điệu nhạc Ba sa Nova của Brazil.
Câu “incognito ergo sum” là một trò chơi chữ rất Brodsky: đảo nhại câu của Descartes Cogito, ergo sum (“Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”) thành “Tôi vô danh, nên tôi tồn tại.”

“Chronos, Cosmos, Eros” là ba khái niệm Hy Lạp tượng trưng cho thời gian, vũ trụ và tình ái; trong bài thơ, Brodsky dùng chúng như những quyền lực hoặc lực chi phối đời sống con người.

(Theo nguồn Rustih.ru: Анализ стихотворения «Не выходи из комнаты, не совершай ошибку» Бродского; Có sự trợ giúp của ChatGPT.)


Ảnh đại diện

“Đừng ra khỏi phòng, đừng phạm sai lầm...” (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Đừng ra khỏi phòng, chớ phạm sai lầm.
Cần gì mặt trời, nếu anh hút thuốc Shipka suốt?
Ngoài cánh cửa, mọi thứ đều vô nghĩa, Nhất là tiếng reo hạnh phúc.
Chỉ vào nhà vệ sinh, rồi lập tức quay về.

Ôi, đừng ra khỏi phòng, chớ gọi xe.
Bởi không gian trong hành lang gói gọn
Và kết thúc ở công tơ điện. Nếu bước vào một nàng lắm chuyện,
Thì hãy đuổi nàng ngay, khỏi cần lột áo quần.

Đừng ra khỏi phòng, cứ coi mình bị gió lùa.
Có gì thú vị hơn bức tường và chiếc ghế?
Sao phải bước khỏi đây, rồi về ngay chiều tối
Anh vẫn là anh, thậm chí tã tượi ra?

Ôi đừng ra khỏi phòng, hãy nhảy điệu bosa nova
Mặc áo khoác trên mình trần, đi giày chân không tất.
Tiền sảnh sặc mùi bắp cải, và mùi thuốc mỡ bôi ván trượt.
Anh viết nhiều chữ, viết nữa chỉ bằng không.

Đừng ra khỏi phòng, ôi cứ để căn phòng
Đoán xem anh ra sao. Rồi cứ sống không danh chức:
incognito ergo sum, Như bản thể giận dữ nói cùng hình thức
Đừng ra khỏi phòng, ngoài đường, có phải nước Pháp đâu.

Đừng ngu ngốc, hãy là người mà kẻ khác chưa từng theo.
Đừng ra khỏi phòng, nghĩa là mặc sức cho bàn ghế,
Hãy để mặt mình hoà vào giấy bồi tường, hãy khoá cửa, dựng tủ làm chiến luỹ
Để ngăn Chronos, vũ trụ, chủng tộc, virus, với ái tình.


Ảnh đại diện

“Tôi yêu em. Tình yêu ấy...” (Joseph Brodsky): Phân tích số sánh bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin và Brodsky

Đối với sáng tác của Brodsky hiện tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau. Theo quan điểm thứ nhất, ông là một ngôi sao sáng không thể phủ nhận của thi ca Nga, một “Pushkin thứ hai”, người đã tiếp nối những truyền thống tốt đẹp nhất của bậc tiền bối vĩ đại và có đóng góp đáng kể cho nền văn hoá dân tộc. Nhóm các nhà nghiên cứu thứ hai lại cho rằng việc so sánh Brodsky với Pushkin là điều không thể chấp nhận được. Theo họ, sáng tác của Brodsky hoàn toàn không gắn bó với nền văn học cổ điển.

Xét theo nghĩa đó, việc phân tích tác phẩm Hai mươi bài sonnet gửi Mary Stuart của Brodsky đặc biệt thú vị, nhất là bài sonnet thứ sáu, bài thơ trực tiếp hưởng ứng với bài Tôi yêu em của Pushkin. Nhân vật trữ tình của Brodsky hướng sự chú ý vào pho tượng đá của Mary Stuart. Bài sonnet thứ sáu là một lời tỏ tình với một nhân vật lịch sử, trong đó thấp thoáng câu chuyện tình yêu riêng của chính nhà thơ.

Brodsky sử dụng bài thơ nổi tiếng của Pushkin, nhưng đã làm biến đổi đáng kể ý nghĩa và sắc thái chung của nó. Điều đập ngay vào mắt người đọc là sự cố ý “hạ thấp” xử dụng ngôn ngữ thông thường, bình dân. Nhà thơ dùng những cách diễn đạt thô ráp, gần với lời chửi tục: “vỡ tan tành khắp địa ngục”, “nện”, “miếng trám trong mồm”. Bên cạnh chúng lại là những câu trang trọng, thuộc phong cách “cao quý “: “cầu Chúa ban cho em”, “ngọn lửa trong ngực”. Chính sự pha tạp giữa các lớp từ ấy tạo nên một hiệu quả cảm xúc vô cùng mạnh mẽ.

Thoạt đầu có cảm giác như Brodsky chỉ đang nhại và chế giễu những câu thơ của Pushkin. Nhưng thực ra không hẳn vậy. Tôi yêu em… là một lời tỏ tình với người phụ nữ đã trở thành kinh điển của thi ca Nga. Brodsky lấy bài thơ ấy làm mẫu mực. Nhưng vì thuộc về một thời đại hoàn toàn khác, ông hiểu rằng một lời tỏ tình như thế sẽ trở nên lạc lõng. Bởi vậy ông đưa nó đi qua chính bản thân mình và biến đổi nó cho phù hợp với những đòi hỏi của thời đại.

Brodsky mỉa mai chính mình và mỉa mai cả thời đại vô cảm của mình. Ở Pushkin, tình yêu vừa cảm động vừa cao thượng. Người đang yêu ngoan ngoãn chấp nhận sự mất mát, cố gắng giải thoát người mình yêu khỏi mọi ưu phiền và cầu chúc nàng tìm được hạnh phúc đích thực. Còn ở Brodsky, tình yêu trở thành một cảm giác nhục thể thuần tuý. Sự cam chịu được thay bằng ý nghĩ tự sát, nhưng ngay cả ý nghĩ ấy cũng kết thúc bằng một nụ cười châm biếm của tác giả. Nhân vật trữ tình dừng lại vì còn đang cân nhắc nên bắn vào thái dương bên nào. Tình yêu của anh ta mang tính ích kỷ. Anh tin rằng Thượng đế không thể tạo ra một tình cảm tương tự trong một người đàn ông khác. Biểu hiện cực đoan nhất của sự thấp kém trong tình yêu hiện đại nằm ở những câu cuối. Tác giả cố ý “lỡ lời”. Nhà thơ lãng mạn xưa từng mơ được chạm vào “đôi môi” của người yêu. Còn giấc mơ nóng bỏng của nhân vật Brodsky lại là “bộ ngực”., “cặp tuyết lê”.

Dĩ nhiên, Brodsky không thể đứng ngang hàng với Pushkin. Chính ông hiểu điều đó rất rõ. Khi sử dụng những câu thơ bất tử của Pushkin, ông muốn cho thấy thế giới đã thay đổi đến mức nào. Việc bắt chước Pushkin đơn giản là vô ích, bởi trình độ văn hoá của nhân loại đã suy giảm rất nhiều.

Ghi chú bổ sung (ChatGPT):
Cần lưu ý rằng kết luận về “sự suy giảm văn hoá nhân loại” ở đây nên được hiểu như một cách nói mang tính tu từ trong bài phân tích, hơn là một phán quyết tuyệt đối. Trong chính thi pháp của Brodsky, sự “suy giảm” này đồng thời cũng là điều kiện để thơ ca chuyển sang một hình thức mới: thay vì tái lập giọng điệu cổ điển, nó ý thức sâu sắc về sự đứt gãy với truyền thống và biến chính sự đứt gãy đó thành chất liệu nghệ thuật.


CHÚ THÍCH
-“по Пармениду”: theo triết gia Parmenides, cái tồn tại là duy nhất; cùng một hiện hữu không được tạo ra hai lần. Brodsky dùng để nói: Chúa sẽ không tái tạo đúng ngọn lửa yêu này một lần nữa.

-Đoạn cuối “коснуться — «бюст» зачеркиваю — уст!” là tuyệt tác: ông đang viết “được chạm vào bầu ngực”, rồi tự gạch chữ бюст (bầu ngực, ngực tượng bán thân), thay bằng уст (đôi môi). Nghĩa là ngay trong lúc viết, ham muốn xác thịt được “kiểm duyệt” bởi chính người viết, để lộ sự ám ảnh tập trung vào đôi môi.

(Theo nguồn Стих.Ру; Có sự hỗ trợ của ChatGPT.)
Ảnh đại diện

“Tôi yêu em. Tình yêu ấy...” (Joseph Brodsky): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Tôi yêu em. Tình yêu ấy (có thể là
Đơn giản nỗi đau) khoan vào tận óc.
Mọi thứ bay lung tung khắp địa ngục
Tôi thử bắn vào mình, nhưng trục trặc nhiều:
Không thạo súng, và thêm nữa, chọn thái dương nào.
Việc thất bại không do vì run sợ,
Mà do tự đắn đo. Ma quỷ ạ!
Thật chẳng còn ra thể thống con người!
Tôi yêu em mãnh liệt, tuyệt vọng rồi,
Cầu Trời cho em có người yêu. Nhưng Ngài từ chối!
Chúa toàn năng có thể làm nhiều thay đổi,
Nhưng chẳng bao giờ, theo Parmenides, có lần hai,
Tạo lại nhiệt huyết cùng với xiết chặt ngực trong vòng tay
Xương cốt răng rắc nghe đến mức,
Miếng trám răng chảy ra vì khát khao nóng rực
Được chạm vào - cặp tuyết lê, tôi gạch hết, viết: - đôi môi.


Ảnh đại diện

V (Nikolai Nekrasov): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

“- Từ đây đi Gogulin đường mất bao xa?
- Mất ba dặm - đường vòng, còn thẳng đường thì sáu.”
(Một câu đùa của nông dân)


Chàng trai tỉ tê giọng nhẹ nhàng
Nói với nàng những lời thật ngọt,
Nhưng Kachia thấy sao đắng đót
Chờ người yêu đến tận lễ Pokrop cơ.
Biết bao đêm trằn trọc một mình cô
Nàng không thể ngủ ngon, nhắm mắt”
Còn khi gặt ruộng lúa xưa mọc tốt,
Nước mắt cô chảy suốt ba hàng!
Người cô trông héo hắt vì buồn,
Để mau vượt qua thời gian bận nhất -
Cái thời vụ bận tối mày tối mặt
Phải làm luôn chín mười việc liền tay,
Cô mệt rồi đã quá sức hàng ngày,
Cô gái nhìn thấy luôn tay công việc,
Cỏ ngả đầu dưới lưỡi a chờ chực,
Khi gặt, mạch đen cháy dưới lưỡi liềm
Cứ phải căng, cố hết sức mình
Nào buổi sáng, phải nhanh tay đập lúa
Còn phải trải lanh ra phơi qua đêm đã
Ngoài đồng cỏ, sương phủ kín luôn
Đầu óc ưu tư, tay cắt cây lanh
Bao suy nghĩ trong đầu đang vương vấn:
Thế nhỡ có cô tươi xinh mới đến
Cho anh dùng thuốc lú, bùa mê?
Anh thay lòng, đổi dạ? chạy theo
Rồi hỏi cưới luôn cô ta làm vợ?
Nàng run rẩy con tim, nghĩ hoài thấy sợ:
“Anh phải lấy em, phải cưới em ngay!
Với cả anh, cả mẹ chồng hàng ngày
Em không dám hỗn hào, cãi láo,
Dù mẹ chồng, nghĩa là mẹ anh, có mắng,
Mẹ nói gì, em không cãi, lắng nghe hơn.
Em đâu phải công nương, con gái nhà buôn,
Tính tình em luôn dịu dàng, hiền thục,
Em cố gắng êm đềm, chịu đựng,
Người vợ hiền mọi việc chăm làm.
Anh đừng thấy công việc mà ham,
Em cố gắng thì càng dư sức,
Thay người thương, em sẵn sàng được,
Em ra đồng gặt hái, cày bừa.
Anh cứ rong chơi thoải mái, say sưa,
Việc nhà có em đứng ra quán xuyến,
Anh cứ đi khắp chợ xa buôn chuyến
Cứ tự nhiên, múa hát vui ca!
Khi về nhà có say rượu ngà ngà -
Em vẫn dọn ăn và lo cho chỗ ngủ!
“Ngủ đi, người yêu hỡi, ngủ nhé, da hồng đỏ!”
Em sẽ không càm ràm, nói quá nhiều.
Có Chúa chứng giám, em không cáu giận, anh yêu:
Sẽ luôn sẵn sàng lo ngay yên ngựa
Và phóng đi tìm anh yêu quý:
“Hôn em đi, anh nhé, hãy hôn em!..”
Những suy nghĩ thầm kín con gái mang theo,
Họ muốn gì, Làm sao mà đoán được?
Khó hơn cả đếm đá quý nhiều màu sắc
Khi phải đếm dưới đáy biển thẳm sâu.
Con cừu biết để lông dày dặn mau,
Khi cảm thấy mùa đông về rét buốt,
Kachia thấy nóng lòng nóng ruột…
Khi ngày lễ Pokrop đã cận kề!

“Ôi, gùi hàng trống trơn, nhẹ nhõm ghê,
Ví chật căng tiền đem về kiếm được.
Ơi người yêu của anh, hãy yên tâm chờ đợi,
Bạn trai em không nói dối, sai lời!”

Vanka trong lòng vui sướng. Miệng hát liên hồi,
Đang trên đường về nhà theo lối thẳng.
Ông già Tikho nưch ngáp dài ngáp ngắn,
Vừa nguyện lời dấu thánh lầm rầm,
Đêm đã buông, ông thao thức, cố nằm -
Thấy lo lắng, trong lòng như lửa cháy.
Như đàn muỗi trong đầu đang bay nhẩy,
Chắc Chúa thì biết nguyên cớ do đâu
Bao nghĩ suy khủng khiếp theo nhau
Cứ quay tít, trong đầu vần vũ mãi.
Hễ thấy trong quán rượu có lưu manh tiến lại
Vẫy gọi vào tửu quán gặp nhau,
Hay chạm trán mấy lính tráng theo sau -
Người bán rong thấy bất an tệ hại.
“Xin Chúa phù hộ các người! anh em hỡi!” -
Rồi chạy đi theo nước kiệu đều đều.
Cứ như gan bàn chân kim nhọn cắm đầy
Chỉ còn cách chạy cắm đầu, cắm cổ.

Đi về qua Kostroma khu dân cư có,
Đường đi qua một số đầm lầy,
Khi thì qua ụ bùn, lúc lội chỗ cạn ngay.
“Hệt như chuyện có trong câu tục ngữ:
Nếu đường vòng chỉ ba dặm đủ,
Còn đi thẳng thì phải sáu dặm dư!
Mà ở Truba, người làng chẳng đáng tin
Khuyên nhủ linh tinh, làm hai người thêm rối trí:
“Thưa hai bác buôn hàng, cứ thẳng đường đi tới,
Đến Kostroma cứ đường thẳng mà theo:
Thì phải bốn mươi dặm rưỡi chứ bao nhiêu
Theo đường nhỏ qua vùng đồi len lỏi,
Còn lối mòn chạy giữa đầm lầy lội
Thì chỉ hai mươi tám dặm”. Chuyện là vậy mà!
Quỷ làm rối tung - chúng tôi tin họ thành ra,
Ai đếm được là bao nhiêu dặm?”
- “Cánh đàn bà đánh dấu đường đi bằng gậy, -
Vanka nói cùng vẻ mặt nghiêm trang -
Thôi đừng chửi bậy! Chính cháu nghe rõ ràng,
Đường này sẽ thẳng hơn là chắc chắn”
- “Chắc có bàn tay ma quỷ nhúng mất,
Đã rắc xuống đây bao mô đất với rễ cây?
Nhỡ trên đường mà gặp lúc tối sập ngay,
Không đến kịp thì phát điên lên thật!
Tỉnh của ta sao mà tốt đẹp,
Thành phố Kostroma thực tuyệt vời,
Nào rừng sâu, nào rừng già rậm rạp khắp nơi,
Rồi đầm lầy dẫn tới tận đây nhé,
Cát và cát, cát rời lún suốt ngày thế…”
- “Đứng lại thôi, bác ạ, suỵt, thấy có người!”


Ảnh đại diện

IV (Nikolai Nekrasov): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Ôi bà chủ! Bà chủ!
(Dân ca)

“Này các ông buôn bán hàng rong,
Hãy đến nhà chúng tôi cùng ngủ lại!”
Các thương nhân của ta ở mãi,
Sáng ra lên đường phải tiếp tục đi.
Họ nhẹ nhàng cất bước say mê,
Mong tích góp đem về tiền lãi,
Lắm anh vẫn giải khuây mê mải
Nghĩ ra nhiều trò vui suốt dọc đường.
Họ bắt quen, khi đi dọc bờ sông,
Gặp gỡ dân kéo thuyền qua đấy,
“Ai xui các anh theo nghề này vậy?” -
Người kéo thuyền gọi họ lũ chó hoài.
Đáng đời thôi, chuyên chọc ghẹo mọi người,
Đồ con buôn quê mùa rồ dại!…

Rồi gặp người chở dưa chuột qua lại,
“Ôi! các ông làm rơi sạch dưa chuột rồi kìa!”
Vanka chợt bật tiếng cười khà,
Và chỉ tay vào đàn gia súc:
Trong đàn có ông lão toàn nhảy lục cục
Chạy theo ngựa Savraska, ông gày nhẵng, yếu già,
Rồi kiễng chân lên tít từ xa,
Và đưa cái làn ra vẫy vẫy -
Không được! ngựa khôn đâu dễ lừa cho bắt vậy!
Nó đến gần, thấy đứng dừng.
Vục đầu sâu vào đáy chiếc làn, -
Ông già vội tóm liền bờm ngựa!
“Ối ối chỉ một chút thôi là bắt được!” -
Không! ngựa lại lồng lên, vọt thoát ra
Rồi thu hai chân sau để lấy đà,
Đá tung đất bùn vào người ông lão.
Biết ngay mà, đi cùng đoàn thì vui hơn hẳn
Chở ông già một mình trong chiếc xe con!
Đồ hấp rồi, phơi khô kiệt, dở hơi!
Làm sao lão bắt ngay được nó?
Thế là mất toi giày rồi đó,
Phải mua đôi giày mới mất thôi?”
Thỉnh thoảng họ lại gặp đoàn người
Những đoàn xe quân nhu qua lại:
Nhìn kìa, tù nhân Thổ Nhĩ Kì vậy,
Đông kín đường, đủ mọi sắc màu!”
Vanka liếc mắt xéo nhìn theo sau
Những chàng Thổ để ria trông rậm rạp
Rồi nhét vạt áo khoác
Vào mũ tai lợn mang theo:
Ê dân ngoại đạo, hút thuốc phì phèo
Thần chết sắp đến tìm bay đó!…”

Họ gặp cả những người trông chó:
Chó chạy lung tung lao bổ vào bụi cây,
Còn người đi săn hét to ngay,
Thổi tù và kêu vang khắp chỗ,
Cho thỏ xám giật mình vọt ra trông rõ,
Lao vào giữa đồng vắng trống không.
Họ dừng lại gặp mọi người hỏi chung:
“Tốp săn của ông nào đấy?”
- “Kashpiriat với Dyudenyata vậy…
Thỏ kìa, mau nhìn hướng ấy nhanh!”
Lập tức chó săn báo động xung quanh
“Ôi! Ôi! bắt lấy mau, xông lên bắt nó!”
Nào chó săn! Đúng là đồ sát thủ!
Tóm được khi thỏ đang nhảy vèo vèo…

Họ ngồi nghỉ trên một gò cao,
Ăn qua quýt đồ ăn một chút
(Vỏ bánh mì khô thì nhai sao no bụng.)
Và lại rủ nhau đi tiếp con đường.
“Bác Tikhonưch, vận may thất thường quá
Hôm nay tiền thu về kém lạ”.
- “Ta đụng ngay một gã thày tu này -
Thật không may, điềm gở nhất hôm nay.
Dù tâm hồn ta theo Thiên Chúa,
Biết phạm lỗi - thấy mình chột dạ”.
- “Kia có điền trang quý tộc nhà ai,
Rẽ vào thôi?..” - “Vanhia, cậu đơn giản, thơ ngây!
Ngày nay ở thôn quê, ông bà quý tộc
Họ đâu có sống như ngày trước,
Và với phụ nữ có nhiều mốt mới sinh ra
Đã thành quen… chẳng đến lượt chúng ta!
Thì ngay bà chủ nhà là người già cả,
Mặt đầy mụn rỗ, trông khó tả,
Đầu không còn sợi tóc, hói trơn,
Gày trơ xương, mà ăn mặc phát kinh
Trông như một cây rơm thực sự!
Mặt khinh khỉnh, hạ cố nói đôi lời cùng cậu
Ông nông dân không sạch sẽ thơm tho!
Đuôi thì dài mà chẳng thấy lông!
Ôi bà chủ, nên biết còn xấu hổ,
Đừng ló mặt ra cho làng nước ngó!
Bím tóc là đồ giả, có hay gì,
Rụng sạch răng, ngực lép phẳng lì,
Cái gì cũng dán, cũng hàng giả cả!
Thành phố bây giờ thật kì: mốt Pari hết ạ,
Không phải tự nhiên họ nói rằng:
Cứ đến Pari, thì đầu óc điên cuồng.
Cả thế giới cùng mơ về nơi đó
Họ giỏi khiến ta tiêu pha nhiều thì rõ;
Nếu chị không thích mũi mình à,
Chúng tôi làm cho mũi mới ra!
Đấy nhờ mấy tay lừa đảo ấy,
Đang sống ở thành phố vậy;
Chứ hàng mấy cậu bán rong xưa
Nay các ông bà chủ chẳng ai mua.
Đến quỷ cũng chạy qua mốt mới!
Còn ngày xưa, thấy nhiều thứ khác xa,
Chủ nhà dẫn tôi vào phòng bếp,
Có bao thứ hàng, tôi bày ra hết;
Bà chủ nhà xinh đẹp bước ra,
Bím tóc trông mới thật thướt tha,
Vừa mạnh mẽ, vừa nết na, lịch thiệp,
Các con bà chạy ra toàn líp nhíp,
Nào người làm, nào nhũ mẫu đi theo,
Đám gia nhân đứng cạnh cửa ra vào.
Từ vải áo cho Vanhiushka đã
Đến vải váy cho tiểu thư tất cả
Hai tay bà chọn lấy, thấy trắng ngần
Bà lựa ung dung, không chút vội vàng,
Và mỗi thứ, mua từng xấp một -
Thế mới đúng là bà chủ thật!
“Vòng đeo tai có hạt - anh bán giá nào?
Vải hoa đỏ thì tính giá ra sao?”
Tôi rũ rũ mái tóc vàng xoăn tít,
Rồi cứ ý mình đưa ra giá hết!
Hàng mua rồi chất thành một đống to,
Thanh toán sòng phẳng, chẳng phải lo!…

Còn một lần, tôi ăn may thật sự
Ở bên kia sông, ngoại ô Kostroma đấy chứ.
Có tiệc mừng ngày đặt tên cho con -
Ông chủ nhà tính rộng rãi khác luôn
Tôi nghe thấy, khách quen ngà ngà say đang gọi:
“Anh bạn ơi, lại đây cho nhờ với!”
Tôi vội vàng chạy lại ngay
“Giá bao nhiêu mua cả gùi hàng này?”
Tôi nhếch mép nhẹ nhàng cười khẩy:
“Thưa quý ông, thế thì đắt đấy”
Hai bên mặc cả đúng mấy câu
Mọi người cười thoải mái với nhau
Không thèm nhìn, mua mau cả gùi đấy,
Giá ba trăm, ngã giá ngay như vậy,
Và lúc này chủ mới rút hàng ra
Và tặng cho nhóm nữ múa vòng tại nhà
Ông chủ đứng giữa sân và mời mọc:
“Chọn quà đi, mời mọi người trung thực!”
Cả nhóm chợt sôi nổi thật vui tươi
Đấy ngày xưa chủ nhà đã vậy rồi:
Tôi chỉ rút về nhà tôi thực sự
Sau chín ngày ở ngay nơi nhà chủ!”


Ảnh đại diện

III (Nikolai Nekrasov): Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Cạn chén đi, nếu muốn điều lành,
Không mong điều lành, thì đừng uống cạn.

(Trích sử thi dân gian cổ)

Ra sau làng họ dừng lại, không đi,
Chia nhau lãi lờ vừa kiếm được,
Rồi làm dấu thánh giá, hướng về nhà thờ trước,
Nghỉ ngơi trong chốc lát, tỉnh lại người
“Bác ơi, tuyệt quá, bác mặc cả sao tài!
Có gì chẳng vui? Ôi trời hỡi!”
- “Làm nghề này, rửa sao cho bay tội lỗi,
Chỉ mong ông Trời sẽ thứ tha:
Ta dối lừa làm ô uế miệng ta
Muốn bán được hàng, phải càng dối trá,
Nhà buôn này lại làm dấu thánh giá
Hướng về phía nhà thờ của Chúa trị vì
“Nếu người buôn nói hết những gì
Đều ghi lại y trang vào sổ
Thì từ lâu giống lái buôn cả lũ
Đã hết sạch bong, đố thấy một ai
Chui vào chỗ nứt mặt đất chốn ngay
Không còn bóng dáng người nào, trời ạ!”
- “Anh vừa cho Kalistratushku một vố đau hơn hoạn.”
- “Phải, thiêu hắn đi cũng chẳng bận tâm nhiều
Tự hắn lột cây thánh giá trên cổ người nghèo”.
- “Này anh râu đỏ, bộ râu như nêm nhọn”
- “Nghề của ta ngày nay mong ăn đậm
Không được đâu, thời ấy thật qua rồi!

Chiến tranh khốn khiếp đã bắt đầu
Lại còn biết bao đau thương dữ dội,
Hễ đâu có đám cưới xin sang trọng
Thì a lê hấp, tóm chú rể đi lính luôn!
Vua mà đần chỉ làm khổ người dân!
Nướng sạch hết quốc gia ngân khố,
Đem máu lính nhuộm Biển Đen thành đỏ,
Bao chiến thuyền nằm đáy biển kia.
Chiến tranh tiêu tốn thiếc và chì,
Nướng sạch đám trẻ đang thì trai tráng.
Toàn dân chỉ biết cúi đầu chịu nạn,
Tiếng khóc than vang vọng khắp làng quê.
Ôi, đàn bà, họ chẳng chịu yên,
Thi nhau khóc, gào lên to mãi!
Đọc lời ai điếu giọng sao êm ái
Cho người đang sống thì quá sớm thay!
Dỗ họ không xong, hễ đưa một chàng trai
Lên đường đi lính như vào nơi đời tận
Các bà héo hon vì khổ hạnh,
Còn đàn ông lôi nhau ra quán rượu thâu đêm.
Anh thử nhớ lão chủ quán rượu xem,
Nói gì nhỉ? Lão lưu manh đầu bạc!
“Chẳng quan chức nào cao hơn ta được,
Nông dân đều làm việc mướn cho ta!
Suốt hè rồi thu, họ làm việc như mê man
Cứ hỏi họ vì ai mà chăm vậy,
Toàn dân chính thống giáo tham công tiếc việc?
Họ chẳng cần thiết cái gì trên đời,
Họ không màng tiền bạc. Bạn ơi,
Ta không gieo trồng, ta không gặt hái
Đất đai sinh sôi gì cho họ, cha mẹ thấy,
Họ đều mang nộp kho bạc nhà ta!”

Họ rượu chè đến lụn bại ra
Tiền không có sắm cho con, cho vợ!
Lên tỉnh, những nông dân áo vải đó
Muốn có dép vỏ cây cũng phải đi vay!

Ôi, cỏ men quán rượu uống hàng ngày,
Rồi trà tầu pha ra uống suốt,
Rồi rủ rê nhau rít thuốc!
Làm người ta không giữ được hồn người.
Khi sa vào nghiện rượu, thuốc rồi
Chỉ chuốc hoạ vào mình thôi, cầm chắc.
Xem ra sắp đến ngày tận thế thật
Thì chiến tranh đã bùng nổ mất rồi.
Kèn phán xét sẽ vang tiếng khắp nơi!
Từ dưới mồ, người chết rồi sống dậy!
Thì biết trả lời sao cho họ thấy
Về bao tội ác giết chóc con người?
Chính chúng ta chọc giận Đấng tối cao thôi… -
“Thôi, bác ạ! cháu nghe, ôi, sợ quá!
Hay từ nay đừng kiếm thêm vài đồng nữa
Thôi moi tiền của họ để yên thân!..”


Trang trong tổng số 142 trang (1414 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: