Trang trong tổng số 56 trang (551 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [49] [50] [51] [52] [53] [54] [55] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Vodanhthi

Con tem



TTCT - 1. Con gái vào cấp II, bắt đầu thích đọc truyện chữ hơn truyện tranh và có những sở thích “người lớn” hơn. Gần đây, khi bố phục hồi thú chơi tem, con gái trở thành “người quản lý” bộ sưu tập của bố.

http://images1.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/384/604384.jpg
Minh họa: Bích Khoa



Thú sưu tập này bất ngờ khiến con gái hào hứng, hỏi han lung tung, bố giải thích cho con gái nghe một cách đơn giản rằng mỗi quốc gia đều khẳng định sự tồn tại của mình qua quốc hiệu (tên gọi), quốc huy, quốc ca... Đó là di sản tinh thần. Còn về tài sản vật chất của quốc gia đó sẽ thể hiện qua đồng tiền, hộ chiếu và con tem.

Bố phân tích: “Cũng là tài sản vật chất như nhau, nhưng đồng tiền chỉ có giá trị khi lưu thông trong nước, hộ chiếu thì ra được nước ngoài nhưng là thứ gắn liền với mỗi cá nhân sử dụng nên không thể chuyển đổi. Chỉ có con tem sưu tập với bì thư mang con dấu ngày phát hành đầu tiên là có giá trị tài sản có thể mua bán, chuyển đổi giữa các nhà sưu tầm trên toàn thế giới. Đó là lý do mà mỗi khi có bộ tem mới phát hành, bố đều để dành tiền mua kèm con dấu ngày phát hành đầu tiên. Cũng là một cách để dành cho các con, bởi đến đời con của các con, những con tem này không chỉ có giá trị tài sản, mà còn “thông báo” cho mọi người biết đó là vật sở hữu của con, rằng con từ đâu đến, và những giá trị tinh thần này sẽ đi theo các con mãi”...

2. Con gái dạo này cứ nài ép cậu Hai hướng dẫn sử dụng phần mềm photoshop. Và sau bài kiểm tra địa lý tuần trước, con gái lại nài bố tìm giúp một con dấu “ngày phát hành đầu tiên”. Chết thật! Mỗi bộ tem có một con dấu ngày phát hành đầu tiên riêng biệt với ngày tháng năm khắc hẳn trên đó và chỉ có bưu điện nhà nước mới có quyền phát hành. Bố chỉ là người chơi tem chứ có phải bộ trưởng bưu chính viễn thông đâu mà có quyền tùy tiện khắc dấu.

Con gái xịu mặt: “Giờ con biết ăn nói sao với các bạn trong lớp bây giờ? Thiếu con dấu phát hành đầu tiên thì công trình của lớp sáu 1 bọn con chỉ như trò thủ công cắt dán của bọn nhóc”. Rồi con gái lui cui bò xuống gầm giường kéo ra một bức tranh bằng giấy cactông có dán hình bản đồ Việt Nam với các lãnh thổ trên biển Đông bằng giấy màu, bên góc bìa phải có dòng chữ chạy dọc “Ấn phẩm kỷ niệm ngày phát hành bộ tem chủ quyền biển đảo Việt Nam”.

Trên góc trái là bốn con tem màu sắc rực rỡ hình ảnh trên cửu đỉnh triều đình Huế về chủ quyền Việt Nam với Trường Sa - Hoàng Sa, các bản đồ của Pháp - Tây Ban Nha và Đức đầu thế kỷ 20 ghi nhận chủ quyền Việt Nam với hai quần đảo trên.

Tất nhiên, bố nhận ra ngay bốn con tem “độc chiêu” nọ được sản xuất từ... máy in phun màu vi tính và hiểu được lý do ham học hỏi với photoshop lâu nay của con gái. “Cả lớp con cùng làm bức tranh này để thi toàn trường, nhưng con là lớp trưởng nên có trách nhiệm… làm tăng giá trị tài sản của nó, con sẽ thuyết trình về việc dán tem lên bì thư để khẳng định nơi mình độc quyền phát hành nó”. Vậy bố còn biết làm gì khác ngoài việc hướng dẫn con vẽ mấy con số ngày phát hành đầu tiên cho bốn con tem tự chế tác độc đáo này.

3. Dù bộ tem mà con chế tác chỉ có ý nghĩa thể hiện năng khiếu, nhưng ý thức trách nhiệm đến từ chút thời gian bỏ ra để dán tem lên phong bì khiến những công dân trưởng thành như bố phải tự hỏi lại mình về sự tồn tại của điều ấy với bản thân. Chạy theo áp lực cuộc sống, bố và bao nhiêu người đã quên mất việc giữ gìn tình yêu với ngôi nhà mình, nơi mình ở, quê hương mình sinh sống và gắn bó.

Là một người chơi tem mà bố quên mất giá trị tài sản quốc gia nằm ngay trong ngăn tủ của mình. Và bố mong một ngày nào được sở hữu một bộ tem có hình ảnh những biển đảo Việt Nam thân thương - những vùng đất quê nhà đến từ biển cả - nơi bố đã chào đời.

HỮU ĐĂNG
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

letam

Tướng Lê Văn Cương: “Tại sao Việt Nam mạnh? Tại sao Việt Nam yếu?”



(Dân trí) - “Nhiều người trong nước đang ngụy biện rằng, Trung Quốc lớn quá, Việt Nam không thể làm gì hơn được. Điều đó là hoàn toàn sai lầm." - Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược, Bộ Công an nhận định trong cuộc trao đổi với phóng viên Dân trí.

Ông có bất ngờ trước việc Philippines xúc tiến khởi kiện Trung Quốc ra tòa án trọng tài Liên hiệp quốc?

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Tôi không bất ngờ về việc này. Tranh chấp biển đảo, biên giới lãnh thổ thông thường trên thế giới có 3 cách giải quyết. Cách thứ nhất là thương lượng, nhân nhượng nhằm đi đến kết cục hóa giải được mâu thuẫn. Trong trường hợp Philippines, Manila có đủ niềm tin rằng Bắc Kinh sẽ không nhân nhượng và thương thảo sẽ không có hiệu quả. Họ quyết định chọn phương thức thứ 2, mang ra tòa án quốc tế hy vọng vào cán công lý sẽ giúp đỡ.

Trường hợp Philippines với Trung Quốc rơi vào tranh chấp chênh lệnh nhiều mặt. Phải tranh chấp với một bên lớn hơn nhiều lần, trong hoàn cảnh Philippines, lựa chọn như vậy là hoàn toàn đúng.

Còn phương thức thứ 3 là sử dụng vũ lực để giải quyết thì thời điểm hiện nay, đây chưa phải giải pháp thích hợp.

Dĩ nhiên, dù có đưa ra tòa án quốc tế thì Manila vẫn không thể từ bỏ quan hệ song phương với Trung Quốc và không loại trừ phương thức thương thảo.

Nhiều người dân đang tự đặt câu hỏi: Tại sao bấy lâu  nay Việt Nam không làm như Philippines?

http://dantri4.vcmedia.vn/jcjZsmdamOhPYNEOw8Up/Image/2012/11/Le-Van-Cuong-1-fa05e.jpg
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Mối quan hệ Việt-Trung khác biệt với mối quan hệ Philippines-Trung Quốc. (Ảnh: Phương Thảo)



Thiếu tướng Lê Văn Cương: Tôi cũng biết nhiều người quan tâm và đặt vấn đề như vậy. Họ có thể sốt ruột nhưng trong vấn đề chủ quyền, cần phải tỉnh táo, căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ không từ bỏ phương thức kiện ra tòa án quốc tế nhưng tôi cho rằng, lúc này chưa phải thời điểm thích hợp. Lý do là vì, mối quan hệ Việt – Trung có 3 khác biệt.

Thứ nhất, Việt Nam là láng giềng trực tiếp với Trung Quốc, hai quốc gia có đường biên giới đất liền 1435 km, điều này Philippines không có. Dù một triệu hay một tỷ năm nữa, người hàng xóm đó với chúng ta vẫn là “núi liền núi, sông liền sông”.

Người ta có thể thay đổi bạn bè nhưng láng giềng thì không. Điều này không bao giờ được phép lãng quên trong quan hệ Việt - Trung.

Thứ 2, trong lịch sử, rõ ràng Trung Quốc và Philippines cũng không có ân oán gì cả, còn Việt Nam và Trung Quốc thì có hơn 1000 năm quan hệ song phương với bao trắc trở. Đặt dấu mốc năm 1859 khi Pháp đặt ách đô hộ ở Việt Nam, trở về trước đó dân tộc Việt Nam chủ yếu đương đầu với tham vọng xâm chiếm cương thổ của các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Trong cuộc trường chinh kháng chiến chống Pháp 1945- 1954, rồi sau đó là kháng chiến trường kỳ chống Mỹ đến năm 1975, chúng ta được Đảng và nhân dân Trung Quốc ủng hộ rất tuyệt vời, cả về vật chất, tinh thần, chính trị, an ninh, văn hóa… Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ quên ân tình này.  Điều đó, quan hệ Trung Quốc – Philippines không bao giờ có được.

Thứ 3, Việt Nam và Trung Quốc nằm trong hệ thống chính trị gần gũi nhau. Và đương nhiên, điều này cũng khác với Philippines.

Với 3 điểm khác này, mặc dầu Philippines lựa chọn như vậy nhưng Việt Nam chưa thể làm điều đó, ít nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Ta vẫn tối đa vận dụng khai thác mối quan hệ song phương để giải quyết khác biệt. Nhưng cùng với đó, việc chuẩn bị thật tốt cho phương thức mà Philippines đang áp dụng, cũng là điều dễ hiểu.

Vậy theo ông, điều mà Philippines đang rốt ráo làm sẽ mang lại cho Việt Nam bài học, kinh nghiệm gì?

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Tôi xin khẳng định, cũng chẳng cần Manila kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế thì chúng ta mới có bài học, hay chuẩn bị hồ sơ cho khả năng phải kiện. Trong hơn 1000 năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã được tôi luyện qua rất nhiều bài học trong quan hệ với “người hàng xóm” Trung Quốc.

Tôi khẳng định, phương án này luôn được chúng ta chuẩn bị chu đáo.

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Thiếu tướng Lê Văn Cương
: Có nhiều đồng bào hỏi tôi rằng, trong mối quan hệ Trung – Việt hiện nay, 16 chữ "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" nên hiểu và vận dụng như thế nào? Tôi trả lời rằng, có 2 điều chúng ta luôn nói công khai: thứ nhất, Việt Nam không bao giờ kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa chống Trung Quốc. Và thứ hai, Việt Nam không kéo bè kéo cánh, liên kết với bất kỳ quốc gia nào để chống Trung Quốc.

Theo 2 điều này, chúng ta có quyền làm mọi việc chúng ta cần phải làm để giữ gìn phẩm giá dân tộc, công lý, bảo vệ cho được đất đai hương hỏa của cha ông. Chúng ta phải làm để nhà cầm quyền Trung Quốc thấy rằng đó là cương thổ của một quốc gia có chủ quyền; họ phải thấy rõ, Trung Quốc là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc thì càng phải làm gương.

Khi họ làm sai, chúng ta phải phản đối với lý lẽ sắc sảo, chứng lý rõ ràng như tôi nói ở trên, để cả thế giới biết.

Và 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dầu, hướng tới tương lai” là sách lược nhưng tuyệt đối không được để ai lợi dụng 16 chữ ấy để xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam. 16 chữ ấy là “ứng vạn biến”, “dĩ bất biến” là chủ quyền, không kẻ nào được phép bán rẻ chủ quyền quốc gia.

Tuyệt đối không được để “ứng vạn biến” thay thế cho những điều thuộc về “dĩ bất biến”.

Trong bối cảnh đó, nhiều người đang lo ngại, những phát biểu cứng rắn từ các giới chức quân sự “diều hâu” của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng tới mối quan hệ Việt – Trung?

Trước thái độ hung hăng hiếu chiến của một số người Trung Quốc, chúng ta phải bình tĩnh. Trong số hơn 1 tỷ 300 triệu người Trung Quốc, tuyệt đại đa số là người tốt, nhân hậu. Những người này không có lợi ích gì trong việc Trung Quốc gây hấn với Việt Nam cũng như gây hấn với các nước khác.

Và tôi tin rằng, trong hơn 3 triệu quân nhân Trung Quốc, tuyệt đại đa số trong số đó cũng không muốn gây sự với Việt Nam bởi bản thân họ không được lợi gì cả. Ngay trong lãnh đạo cấp cao Trung Quốc thì không phải tất cả họ đều muốn gây sự với Việt Nam. Chúng ta không vơ đũa cả nắm.

Trong công tác đầu tranh, chúng ta phải đấu tranh bằng nhiều cách: con đường ngoại giao và tận dụng mọi cái có thể tận dụng được.

Nếu họ có các hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam thì phải triệu Đại sứ của họ lên để phản đối, gửi Công hàm và tuyên bố cho cả thế giới biết. Việt Nam không bao giờ kích động chủ nghĩa dân tộc để chống lại Trung Quốc nhưng trách nhiệm của Nhà nước ta là phải nói để cho dân biết, thế giới biết.

Một đại thi hào Trung Quốc đã từng nói đại ý rằng: “Triều đình phong kiến (Trung Quốc – PV) một vạn năm nay, người ta tàn bạo như con hồ ly nhưng nhát gan như con thỏ rừng trước kẻ mạnh”.

Hàng nghìn năm nay, Trung Quốc là quốc gia mềm nắn rắn buông: nước nào không vững vàng thì Trung Quốc tiến, còn nước nào vững thì Trung Quốc cũng không dám tiến. Trung Quốc có thói quen bắt nạt các nước yếu và đó là sở trường của họ.

Ông đánh giá gì trước bình luận: Trung Quốc như một chú hổ vừa thức dậy sau khi giấc ngủ dài, nay sẵn sàng giương móng vuốt?

Đó là sai lầm và những ai tin vào sức mạnh của thứ móng vuốt đó sẽ phải trả giá về điều này. Thời buổi này, không phải muốn làm gì thì làm.

Sắp tới đây, nếu họ mà giương cung ra, họ sẽ chuốc phải thất bại thảm hại.

Thời gian gần đây, một số học giả đưa ra chủ đề tranh luận “Việt Nam lớn hay nhỏ?” Ông đánh giá gì về điều này?

Đưa ra bàn luận như vậy là dở. Tại sao lại đưa ra vấn đề này, nếu chỉ nhìn vấn đề như thế thì làm sao giải thích được trường hợp của Israel. Đất nước với chưa đến 9 triệu dân này, nằm trong lòng 170 triệu người dân Ả Rập nhưng bao năm vẫn vững vàng sau bao sóng gió.

Điều cần phải bàn là “Tại sao Việt Nam mạnh? Tại sao Việt Nam yếu?”.

Nhiều người trong nước đang ngụy biện rằng, Trung Quốc lớn quá, Việt Nam không thể làm gì hơn được. Điều đó là hoàn toàn sai lầm. Trong lịch sử, từ năm 179 trước Công nguyên, khi An Dương Vương thất bại trước Triệu Đà, đến giờ đã hơn 2200 năm, không có lúc nào Trung  Quốc yếu hơn Việt Nam.

Thậm chí, thời nhà Minh Trung Quốc, tương quan chênh lệch với Việt Nam lên tới 100 lần. Từ thời điểm đó, tướng Trịnh Hòa – Trung Quốc đã dong thuyền tới châu Mỹ. Nhưng họ vẫn đại bại trong cuộc kháng chiến của dân tộc Việt, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi.

90 triệu dân Việt đã luôn chứng tỏ sức mạnh của mình trước giông bão lịch sử. Đúng như Đức Thánh Trần, trước lúc lâm chung có nói với vua Trần: “Khoan thư sức dân, trên dưới đồng lòng anh em hòa mục”. Và Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, gắn bó máu thịt với dân, nhà nước mạnh, quan chức công chức đều là công bộc của dân… đó là khi Tổ quốc ta mạnh nhất, sẽ không kẻ nào dám xâm phạm bờ cõi.

Thời gian vừa qua, Trung Quốc liên tục thông tin về việc diễn tập quân sự tại Biển Đông, bổ sung tàu lớn cho lực lượng Hải giám, Ngư chính hoạt động tại Biển Đông... Ông nhận định gì về động thái này?

Trước các động thái của Trung Quốc ta phải phân biệt rõ ràng. Nếu việc tập trận trong phạm vi lãnh hải của họ và không ảnh hưởng gì đến các nước khác thì đó là quyền của họ. Trung Quốc là quốc gia biển và việc người ta thực hiện công tác quản lý nhà nước trên biển bằng cách dùng tàu hải giám, ngư chính trong khu vực cho phép theo Công ước Quốc tế về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) là bình thường.

Vấn đề ở chỗ, nếu tàu này tàu kia của Trung Quốc lao vào cắt cáp tàu thăm dò dầu khí trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì chúng ta kiên quyết phản đối.

Chúng ta phải phản đối với nhiều hình thức, cấp độ khác nhau: thứ nhất là triệu đại sứ, gửi công hàm phản đối. Nếu nghiêm trọng hơn, ngoại trưởng, thủ tướng, chủ tịch nước có thể gửi công hàm phản đối Trung Quốc.

Trong đó, chúng ta phải ghi rõ sự việc vi phạm nghiêm trọng đó xảy ra tại khu vực nào, tọa độ nào, tham chiếu vào luật pháp quốc tế là vi phạm điểm nào. Đặc biệt, điều này phải công bố rộng rãi cho toàn dân ta và thế giới biết.

Phúc Hưng (thực hiện)
 Vui là chính - Chính là vui!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Satthat

Ngày này hơn 30 năm về trước: 17 tháng 2 năm 1979
Xin được thắp nén tâm nhang tưởng nhớ và ghi ơn các chiến sĩ, đồng bào đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương của tổ quốc

<iframe width="420" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/FyHefCJxhV4" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>

<iframe width="560" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/LRl_8_qfEq0" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>

<iframe width="420" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/wp-6BT_5aMw" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Tuấn Khỉ

Nói như vậy là ngụy biện!

Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15... hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này? Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Thiếu tướng Lê Văn Cương
(Trich bài "Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979" đăng trên báo Thanh Niên)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Tuấn Khỉ

Không chỉ một cuộc hải chiến

Lê Thanh Phong

Bài đăng trên báo Lao Động Số 41 - Thứ ba 26/02/2013 08:09

Ban Liên lạc truyền thống bộ đội Trường Sa- tỉnh Khánh Hòa tổ chức họp mặt truyền thống nhân kỷ niệm 25 năm trận hải chiến chống quân xâm lược Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Trang sử bi thương và oanh liệt này rất ít được nhắc tới. Gần đây, thi thoảng mới có những buổi lễ tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong trận hải chiến Trường  Sa khi có những phái đoàn đi thăm Trường Sa. Chính vì ít được nhắc đến, nên rất nhiều người Việt Nam không biết đến một sự thật lịch sử, đó là Trung Quốc đánh chiếm một phần của quần đảo Trường Sa vào ngày 14.3.1988. Những cái tên Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao không thể bị lãng quên trong sử sách, trong tâm khảm của mọi công dân nước Việt.

Cuộc gặp mặt diễn ra vào ngày 24.2 tại thành phố Nha Trang là một sự kiện quan trọng, nhắc nhớ về một sự kiện quan trọng, tưởng nhớ 64 chiến sĩ hải quân hy sinh trong trận hải chiến lịch sử. Hy vọng, trong những lần tổ chức lễ kỷ niệm hải chiến bảo vệ Trường Sa, phải là một sự kiện vượt ra khỏi phạm vi tỉnh Khánh Hòa, một lễ kỷ niệm để mọi công dân Việt Nam đều biết và ghi nhớ.

Không chỉ một cuộc hải chiến bảo vệ Trường Sa mà còn các cuộc chiến bảo vệ biên cương, biển đảo khác. Đó là những sự thật lịch sử, mà đã là lịch sử thì không ai có quyền che giấu hoặc làm cho lãng quên. Những người lính hy sinh vì bảo vệ đất nước đều đáng trân trọng, ghi ơn.

Mới đây, trả lời phỏng vấn Báo Dân Trí về cuộc chiến bảo vệ biên giới (17.2.1979), GS-TS Đỗ Thanh Bình - khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - cho rằng: “Cuộc chiến bảo vệ biên giới này đã được hơn 30 năm, đã đủ độ chín để đưa vào sách giáo khoa dạy cho học trò biết. Việc đưa vấn đề này vào sách là rất bình thường vì đó là sự thật lịch sử. Người Trung Quốc có những chuyện không thật mà họ vẫn đưa vào bản đồ, vào quả địa cầu cho học sinh học, huống gì đây là sự thật mà ta lại không đưa vào sách giáo khoa. Ta không dựng chuyện, đó là sự thật”. Nhận định này rất thuyết phục, bởi vì, các thế hệ người Việt Nam phải học để biết về cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc đầy vinh quang này.

Còn nữa, cho dù có muộn, nhưng sử sách rồi cũng phải ghi đầy đủ, khách quan, đúng sự thật các cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, không chỉ là cuộc hải chiến Trường Sa. Bởi vì, trên biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam không chỉ có một cuộc hải chiến chống xâm lược.

Lê Thanh Phong
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Satthat

.
Có một giờ G khác vào năm 1974

SGTT.VN - 35 năm hoạt động, trên vai áo ông từng đeo quân hàm không quân hai bên là đối thủ của nhau. 22.000 giờ bay với nhiều loại phi cơ chiến đấu và dân dụng hiện đại nhất từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu. Những nếm trải cuộc đời, dường như Nguyễn Thành Trung chẳng thiếu thứ nào. Người ta thường nói vinh quang đi cùng cay đắng. Còn ông, sống chết, tù tội chẳng màng, nhưng những giây phút cô đơn trong cuộc sống hoà bình, ngay trong lòng đồng đội thì thật dài và khó quên. Tháng tư đến rồi lại đi cùng ký ức…


Chặng đường lịch sử dài 38 năm có quá nhiều biến cố, sự kiện ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đối với ông có ý nghĩa gì? Bây giờ nghĩ về giây phút ấy ông cảm thấy thế nào?

Đối với cá nhân tôi, ngày 8.4.1975 là một bước ngoặt lịch sử quan trọng nhất trong cuộc đời. Lái chiếc máy bay F-5E ném hai trái bom xuống dinh Độc Lập, sau đó quay lại dùng súng phóng lựu vào kho xăng Nhà Bè, là hành động mà tôi ấp ủ trong một quá trình dài, ngay từ thời trai trẻ.

Đối với tôi, chấm dứt chiến tranh để người Việt Nam không còn đổ máu là một việc lớn phải làm. Đó không phải là cảm hứng nhất thời, hay bất chợt, liều lĩnh. Sự nỗ lực cá nhân suốt bao nhiêu năm ở khoa toán – lý đại học Khoa học Sài Gòn, trong vỏ bọc sĩ quan không lực Việt Nam Cộng hoà, hay tại các trung tâm học lái máy bay chiến đấu ở Hoa Kỳ từ năm 1969 – 1972 tôi vẫn chuyên chú cho hành động ấy. Tôi âm thầm luyện tập hạ cánh ở cự ly gần 1.000 mét (trong khi máy bay F-5E phải đáp trên đường băng dài tối thiểu 3.000 mét) đến độ hư hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương, giáng chức, suýt nữa là bị lộ tại sân bay Biên Hoà. Nhờ vậy mà ngày 8.4 năm ấy tôi đã hành động chính xác, đáp xuống an toàn tại sân bay dã chiến Phước Long vừa giải phóng. Có thể gọi đó là sự chính xác của lý trí và khoa học. Bước ngoặt 180 độ đó cho tôi được chính danh là tôi – Nguyễn Thành Trung như ngày hôm nay.

Nhưng báo chí cả hai phía lúc đó chạy những dòng tít lớn gọi ông là “phi công phản chiến”?

Đúng vậy, cấp trên nói với tôi là cần tuyên truyền như vậy để kêu gọi những người trong lực lượng không quân Sài Gòn tiếp tục phản chiến. Tôi nghĩ nói sao cũng được, vấn đề là tôi có làm được nhiệm vụ không? Có còn sống để trở về không? Từ năm 1969, tôi đã là đảng viên.

Còn các đồng nghiệp của ông nói gì về hành động của ông?

Ngay lúc đó thì tôi không biết họ nói gì, nhưng sau này nhiều người cho là tôi hành động hơi dại dột, bởi trước mắt tôi là một hợp đồng với phía Mỹ, sẵn sàng bảo lãnh vợ con tôi sang sống ở Mỹ với điều kiện tốt nhất. Nhưng đó không là lựa chọn của tôi.

Vậy lựa chọn của ông bắt nguồn như thế nào, truyền thống cách mạng của gia đình hay sự tự giác của cá nhân ông?

Ba tôi là một người yêu nước, chống thực dân và hy sinh tại quê nhà. Các anh tôi cũng đi theo con đường yêu nước của ba tôi. Cái chết của ba tôi, càng làm cho tôi ý thức rõ ràng hơn là phải góp phần làm cho chiến tranh sớm chấm dứt, quê hương và dân tộc mình phải được sống trong cảnh thanh bình. Tôi là người biết rõ mình là ai, mình cần phải làm gì. Những việc quan trọng cần làm tôi luôn dự liệu trước hàng chục năm.

Thời khắc đó ông có nghĩ đến sự an toàn của vợ và hai con còn quá nhỏ đang sống ở thành phố Biên Hoà? Có khi nào ông cảm thấy khổ tâm hay hối hận về hành động của mình mang lại nỗi vất vả cho vợ con?

Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ bị lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước 10 năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn.

Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Một tuần sau vợ và con tôi bị đưa từ Biên Hoà về số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Sài Gòn cho đến ngày 30.4.1975. Đương nhiên, họ vẫn điều tra vợ tôi về những gì liên quan đến tôi, nhưng không bị đối xử vô nhân đạo. Có thể đó là những người có học và biết cách ứng xử một cách văn hoá với người thân của kẻ thù. Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ.

Vậy đó, ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình.

Sau ngày thống nhất đất nước, đối diện với bao khó khăn của cuộc sống thường ngày do nền kinh tế bao cấp áp đặt, những lúc ngột ngạt, mệt mỏi ông nghĩ gì?

Tôi là người được học hành tử tế trong những ngôi trường khá lý tưởng của Sài Gòn và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tôi biết rõ những sai lầm trong chính sách kinh tế của miền Bắc nước ta. Bi kịch cải cách ruộng đất còn nguyên đó, công nghiệp chẳng có gì. Khu gang thép Thái Nguyên còn thô sơ lắm, Dệt Nam Định, Sứ Hải Dương chỉ sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng cấp thấp, đặc biệt là hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai miền, nhất là do đặc thù của nền kinh tế tự cung tự cấp, cho tôi nhìn rõ sau khi Việt Nam thống nhất, kinh tế sẽ cực kỳ khó khăn ít nhất là mười năm. Tôi chuẩn bị tinh thần đối phó với những khó khăn chung, và cả những khó khăn về mặt cá nhân, nghi ngờ, hay có những phân biệt đối xử này nọ... Tôi chấp nhận đối diện thực tế đó và nghĩ điều quan trọng nhất mình có được là dân tộc Việt được sống trong hoà bình.

Thực tế mười năm khó khăn như ông nói cũng đã được tháo gỡ bởi bước chuyển đổi mới. Nhưng tới bây giờ, người ta lại tiếp tục đưa ra dự báo mình lại đang hụt hơi, tụt đà. Ông nghĩ thế nào?

Cải cách vì vậy là do dân. Cuộc cách mạng này do dân và do lịch sử thế giới tác động. Nếu muốn không tụt đà thì phải nương vào sức dân, dân giàu thì nước mới mạnh.

Thực ra đổi mới một phần vì khi mình tiếp xúc với thế giới mới ngộ ra một điều là đang bị co trong vòng luẩn quẩn, không tìm ra lối thoát trong khi thế giới ào ào tiến lên. Từ ảnh hưởng đó đồng thời tác động mạnh của cuộc khủng hoảng Đông Âu tới mình và cả Trung Quốc, bắt buộc phải một phần nào đó chấp nhận cách làm ăn mới, có sự tư hữu. Tư hữu của thế giới mình không chấp nhận, nhưng con người có quyền tư hữu từ hàng ngàn năm về trước. Mình luẩn quẩn trong khi thế giới đang tiến lên bởi mình không chấp nhận dân làm giàu. Cho nên bắt buộc mình phải công nhận, phải chấp nhận tư hữu ở một mức độ nào đó để dân thở được. Khi đó dân bắt đầu làm ăn được. Cải cách vì vậy là do dân. Cuộc cách mạng này do dân và do lịch sử thế giới tác động. Nếu muốn không tụt đà thì phải nương vào sức dân, dân giàu thì nước mới mạnh.

Sau ngày 30.4, ông có thường gặp lại đồng nghiệp trong những phi đội cũ? Tình cảnh và và tâm thế lúc gặp lại như thế nào?

Bẵng mười năm sau giải phóng, tôi không gặp lại ai trong nhóm những đồng nghiệp cũ. Sau đổi mới, từ năm 1986 trở về sau này, các đồng nghiệp cũ của tôi lần lượt về mới có dịp gặp lại. Lớp tôi có 23 đứa, chết hết bốn, 18 đứa qua Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Những lần gặp cũng dễ nói chuyện vì họ đã hiểu rõ mọi chuyện. Tôi cũng hoàn toàn hiểu và tôn trọng họ. Đa phần những đồng nghiệp của tôi đều ở Mỹ. Lúc mới về, tâm lý chung mấy người bạn đều ngại gặp tôi. Tôi thì chả ngại gì, tôi vẫn xem họ là những người bạn. Khi gặp cũng tâm sự nhiều, cũng so sánh chuyện cũ, chuyện bây giờ. Ai cũng công nhận việc tôi làm là góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh, chấm dứt cảnh chết chóc, đổ máu. Nhưng điều họ chia sẻ là họ không dám có những quyết định như vậy.

Những người bạn lựa chọn khác tôi lúc qua Mỹ còn trẻ nên ai hội nhập được, sống khá giả. Năm nào mấy ổng cũng ngồi lại với nhau, chuyện nói nhiều nhất là về tôi. Nhiều anh em bảo quyết định của tôi hơi dại dột, vì sau giải phóng sống kiểu gì cũng bị nghi ngờ, đói khổ… Tôi trả lời đó không phải là quyết định bậy bởi tôi ý thức được việc cần làm. Cái gì cũng vậy, làm thì phải trả giá nhưng tôi chấp nhận việc đó. Nhưng qua những thăng trầm của đất nước, nhiều kinh nghiệm cuộc đời đúc kết lại, tôi thấy việc tôi làm càng ngày càng đúng. Còn hỏi tôi có lăn tăn hay không, tôi trả lời thật là thánh mới không lăn tăn, nhưng những cái lớn nhất át những lăn tăn nhỏ đi, nên hàng đêm tôi ngủ yên vì biết tôi đang ngủ trên đất nước mình, chứ qua Mỹ sướng thật nhưng ngủ không yên bởi lúc nào cũng đau đáu một quê hương chỉ còn trong ký ức. Nhiều đứa bạn nói thẳng: “Đến bây giờ mới nghe được một người nói điều đó là mày”. Chúng tôi gặp nhau trao đổi thẳng thắn, không giấu giếm điều gì, nói đến tận cùng suy nghĩ của mỗi người.

(còn tiếp)
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Satthat

Tiếp theo

Có một giờ G khác vào năm 1974

Với ông, quê hương là thế nào?

Tôi có tới hai quê hương. Một Bến Tre nơi tôi sinh ra, nơi đó là dòng tộc máu mủ, nơi đó cha mẹ tôi đã nằm xuống cho chúng tôi trưởng thành. Vốn là xứ học, địa linh nhân kiệt, nhiều tên tuổi trí thức lớn Việt Nam xuất phát từ đây. Những Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu… là những tấm gương của nhân – nghĩa – lễ – trí – tín mà tôi từng học được.

Còn một quê hương khác, Sài Gòn đối với tôi là máu thịt, là tình yêu, là gì đó không thể lay chuyển được dù cho năm tháng trôi qua, nhìn góc phố thay đổi, cũng nhiều lúc buồn vui hờn giận, tiếc nuối…

Ông từng thổ lộ về một người bạn rất thân, giữa ông với người đó hình như có một món nợ ân tình đến nay vẫn còn đau đáu?

Người bạn ấy đến giờ sau 38 năm vẫn chưa gặp lại mặc dù tôi nghe tin ảnh có quay về. Ảnh cùng ở phi đoàn phản lực không quân Sài Gòn với tôi nhưng không phải cùng lớp. Anh ấy là một người đặc biệt. Khi đó, lãnh đạo báo cho tôi biết có một cán bộ nội tuyến trong lực lượng pháo binh bị bắt khai có một phi công quê Bến Tre là nội tuyến của Việt cộng. Tôi nhẩm tính trong không quân có độ chục người gốc gác Bến Tre, riêng phi đoàn phản lực thì có tôi và người bạn mà tôi kể ở trên, người cùng xã, cùng học trường tiểu học nhưng trên tôi hai lớp. Khi thông tin bị lộ như thế thì tất cả những người gốc Bến Tre đều bị triệu tập điều tra. Anh bạn tôi bị ngưng bay, an ninh không quân gọi lên làm việc liên tục. Anh ấy không biết có chuyện gì, nhưng tôi thì biết rõ nguyên nhân. Tuy lý lịch anh ấy không có vấn đề gì nhưng anh có người chị học đại học sư phạm từng tham gia biểu tình chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Lúc đó, tôi cũng như ngồi trên lửa, nhiều chuyện không thể tâm sự, chia sẻ với ai được. Khoảng một tuần sau, tôi gặp ảnh và tôi nghĩ ảnh biết rõ về tôi, từ gia đình đến công việc của tôi. Ảnh nói: “Riêng mày thì tao “ba không”, ai hỏi tao về mày tao cũng không biết, không nghe, không thấy”. Khi nghe câu đó, tôi nhập tâm đến giờ, tới chết tôi sẽ mang theo lời nói và hình ảnh của anh ấy.

Tôi ngẫm nghĩ ở đời có nhiều người cực xấu nhưng cũng có nhiều người cực tốt. Cái tốt - xấu đó mong manh lắm, nhưng người ta không cần xác nhận. Là bạn thân nên anh ấy bảo vệ chứ không phải vì tôi là Việt cộng hay cán bộ mà anh ấy ứng xử như vậy. Trong thâm tâm tôi nhiều lần muốn gặp lại anh ấy, nhưng để làm gì, nói một lời cảm ơn liệu có ý nghĩa gì? Tôi động viên mình có lẽ trong tình cảnh ấy đến giờ chỉ cần hai tâm hồn bạn bè hiểu nhau là đủ. Tôi nguyện cho tới chết tôi sẽ mang điều ấy theo.

Ông đã bước ra khỏi vỏ bọc của một điệp viên, lái máy bay trên bầu trời hoà bình, và làm công việc đào tạo, hết lòng với một thế hệ phi công trẻ Việt Nam. Điều đọng lại trong ông sau thời gian dài gắn bó với công việc đào tạo, huấn luyện ấy là gì?

Một mảnh đất dù nhỏ cũng là tổ quốc mình, cha ông ta đã đắp xây nên bờ cõi, là con dân của đất nước ai cũng có nghĩa vụ thiêng liêng gìn giữ lấy.

Giã từ cuộc chiến, tôi thấy mình làm khá nhiều việc mà những việc đó chắc không phải ai cũng làm được. Hồi còn sống, anh Hai Trung (tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn) nói nửa đùa nửa thật: “Việc ông ném bom dinh Độc Lập, Nhà nước phong ông anh hùng thì tôi không nói làm gì, còn công việc ông làm sau này nếu được, tôi phong ông hai lần anh hùng nữa”. Anh Hai Trung hiểu về công việc đặc thù của tôi. Khi giải phóng, cả một bề thế không quân chế độ cũ bỏ lại, tôi là người làm sống lại phi đội A37 sau này tham gia đánh Tân Sơn Nhất vào ngày 28.4 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. F5 là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ mà Mỹ bỏ lại mấy phi đoàn nhưng không có người bay. Giá trị vậy nhưng bỏ lại quá lâu bị hư hại nhiều, có chiếc bị bắn phá thủng lỗ chỗ. Nhiều chiếc còn bị bộ đội tiếp quản tháo đi những tiện nghi nội thất hay linh kiện quan trọng… Sau khi thành lập bộ phận tiếp quản, tôi nhận nhiệm vụ làm sống lại những chiếc máy bay này. Khi sửa xong, tôi là người bay thử. Phi công bay thử của người ta điều kiện bảo hiểm ngặt nghèo lắm, còn tôi thì như con thiêu thân. Gần 50 lần bay như thế, tôi luôn sẵn sàng tình huống nhảy dù khẩn cấp bởi máy bay có thể hư bất cứ lúc nào. Mỗi lần bay, nhiên liệu chỉ cung cấp đủ phân nửa cơ số. Vốn là người nhạy cảm trong cuộc sống, con ruồi bay qua tôi phân biệt ruồi đực hay ruồi cái, huống chi chuyện nhiên liệu chỉ đủ bay một vòng trong bán kính hẹp. Điều lăn tăn mà tôi kể trên là như vậy đó.
Tháng 8.1975 sau khi hồi phục xong rồi, tôi huấn luyện cả một phi đội, bay thành thục F5 để thành lập trung đoàn không quân 935, sau này trở thành trung đoàn anh hùng.

Đã quá cái tuổi lục thập nhi nhĩ thuận, còn điều gì ông thấy hối tiếc, hoặc món nợ nào ông chưa trả được?

Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa, phía Việt Nam Cộng hoà khi đó có một đại đội địa phương quân chốt trên đảo Phú Lâm. Hai bên đánh nhau, cùng có thương vong về con người nhưng quân số Trung Quốc đông quá, 51 lính địa phương quân của ta bị bắt đưa về Trung Quốc. Việt Nam Cộng hoà lên tiếng phản đối việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đảo của Việt Nam một cách phi pháp. Đây là sự kiện lớn, dư luận thế giới cũng phản đối việc đó.

Lúc này hải quân của Việt Nam Cộng hoà không thể đổ bộ chiếm lại đảo được. Ngày 19.1.1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều năm phi đoàn F5, bốn ở sân bay Biên Hoà, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đánh lấy lại Hoàng Sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi đoàn 520 – Nguyễn Văn Dũng, 536 – Đàm Thượng Vũ, 540 – Nguyễn Văn Thanh, 544 – Đặng Văn Quang, 538 – Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng.

150 phi công thuộc sáu phi đoàn F5 của không lực Việt Nam Cộng hoà khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện “Xin được chết vì Hoàng Sa”.

Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào… đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.

Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh Việt Nam Cộng hoà bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.

Một mảnh đất dù nhỏ cũng là tổ quốc mình, cha ông ta đã đắp xây nên bờ cõi, là con dân của đất nước ai cũng có nghĩa vụ thiêng liêng gìn giữ lấy. Tụi tôi háo hức sẵn sàng tất cả nhưng cuối cùng không được chết cho Hoàng Sa. Tới bây giờ tôi vẫn ân hận. Sau này bạn bè tôi gặp lại nhau cũng cùng một tâm trạng: đáng lẽ tụi mình chết cho Hoàng Sa thì vinh dự hơn!


Là người đi nhiều nơi, có điều kiện tiếp cận với chuyện làm ăn, ông thấy phẩm chất, tư cách của người Việt Nam có đứng được ở những thị trường minh bạch?

Cũng tuỳ người. Thí dụ như thị trường Lào, nhiều nhà đầu tư của mình không dám qua đó nữa bởi vì làm kiểu nói dóc, hứa nhiều nhưng làm chẳng bao nhiêu. Họ nói thẳng là mấy ổng đó qua họ không tiếp. Cách làm ăn của người Việt mình cũng có nhiều cái người ta không chấp nhận, chỉ chụp giật, bốc hốt ở đây thôi chứ ra ngoài người ta không chấp nhận.

Hiện nay ông có bằng lòng với cuộc sống của mình?

Thời nào tôi cũng bằng lòng với hiện tại. Thời khó khăn nhất cũng như khi đất nước đổi mới đến nay, tôi bằng lòng với những cái mình hiện có. Đó là hạnh phúc tự tạo. Nếu để làm giàu tôi sẽ đi đường khác và tôi biết cách làm giàu, nhưng tôi đã không lựa chọn như vậy. Tôi vẫn nghĩ “tri túc tiện túc hà thời túc”, mình biết đủ thì lúc nào cũng đủ, còn ham muốn, lúc nào cũng thấy thiếu thì không bao giờ đủ cả. Tôi bằng lòng với cuộc sống con cái học hành đàng hoàng, lễ phép với cha mẹ. Hiện tôi vẫn chưa nhàn được, tôi vẫn đi làm thuê, nhưng làm để vui, chứ làm để buồn thì tôi không bao giờ làm.

Để giải toả những mệt mỏi trong công việc, ông có chơi thú giải trí gì khác?

Tôi cũng thích nhiều nhưng tự thấy mình không có điều kiện, chẳng hạn như đánh golf , làm sao đủ sức, đủ tiền mà vác cái gậy mấy chục ngàn đô. Đối với tôi bây giờ sức khoẻ là trên hết, liệu sức để làm việc thôi. Tôi sống trên không nhiều quá rồi, giờ ngồi dưới đất thú thực là thấy tay chân tù túng, bay một tí cho vui nên đến nay tôi vẫn bay đều.

Cảm ơn về cuộc trò chuyện chân tình và thẳng thắn của ông.

THỰC HIỆN: TRUNG DŨNG – MINH NGUYỄN

Anh hùng Nguyễn Thành Trung tên thật Đinh Khắc Chung, sinh ngày 9.10.1947 tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Năm 1965, ông được ban Binh vận T2 (khu 8) đưa lên Sài Gòn với một bản lý lịch thay đổi bằng tên mới là Nguyễn Thành Trung. Năm 1969, sau khi được kết nạp Đảng, ông được bố trí vào cơ sở nội tuyến trong lực lượng không quân Sài Gòn. Được sự chỉ đạo trực tiếp bí mật của cơ sở nội tuyến, ông có nhiệm vụ phải ẩn mình chờ giờ G ném bom dinh Độc Lập.

Ông hiện là đại tá không quân Việt Nam, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 20.12.1994.


Nguồn: http://sgtt.vn/Loi-song/1...-G-khac-vao-nam-1974.html
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Rào-Nam

Tuấn Khỉ đã viết:
Không chỉ một cuộc hải chiến

Lê Thanh Phong

Bài đăng trên báo Lao Động Số 41 - Thứ ba 26/02/2013 08:09

Ban Liên lạc truyền thống bộ đội Trường Sa- tỉnh Khánh Hòa tổ chức họp mặt truyền thống nhân kỷ niệm 25 năm trận hải chiến chống quân xâm lược Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Trang sử bi thương và oanh liệt này rất ít được nhắc tới. Gần đây, thi thoảng mới có những buổi lễ tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong trận hải chiến Trường  Sa khi có những phái đoàn đi thăm Trường Sa. Chính vì ít được nhắc đến, nên rất nhiều người Việt Nam không biết đến một sự thật lịch sử, đó là Trung Quốc đánh chiếm một phần của quần đảo Trường Sa vào ngày 14.3.1988. Những cái tên Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao không thể bị lãng quên trong sử sách, trong tâm khảm của mọi công dân nước Việt.

Cuộc gặp mặt diễn ra vào ngày 24.2 tại thành phố Nha Trang là một sự kiện quan trọng, nhắc nhớ về một sự kiện quan trọng, tưởng nhớ 64 chiến sĩ hải quân hy sinh trong trận hải chiến lịch sử. Hy vọng, trong những lần tổ chức lễ kỷ niệm hải chiến bảo vệ Trường Sa, phải là một sự kiện vượt ra khỏi phạm vi tỉnh Khánh Hòa, một lễ kỷ niệm để mọi công dân Việt Nam đều biết và ghi nhớ.

Không chỉ một cuộc hải chiến bảo vệ Trường Sa mà còn các cuộc chiến bảo vệ biên cương, biển đảo khác. Đó là những sự thật lịch sử, mà đã là lịch sử thì không ai có quyền che giấu hoặc làm cho lãng quên. Những người lính hy sinh vì bảo vệ đất nước đều đáng trân trọng, ghi ơn.

Mới đây, trả lời phỏng vấn Báo Dân Trí về cuộc chiến bảo vệ biên giới (17.2.1979), GS-TS Đỗ Thanh Bình - khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - cho rằng: “Cuộc chiến bảo vệ biên giới này đã được hơn 30 năm, đã đủ độ chín để đưa vào sách giáo khoa dạy cho học trò biết. Việc đưa vấn đề này vào sách là rất bình thường vì đó là sự thật lịch sử. Người Trung Quốc có những chuyện không thật mà họ vẫn đưa vào bản đồ, vào quả địa cầu cho học sinh học, huống gì đây là sự thật mà ta lại không đưa vào sách giáo khoa. Ta không dựng chuyện, đó là sự thật”. Nhận định này rất thuyết phục, bởi vì, các thế hệ người Việt Nam phải học để biết về cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc đầy vinh quang này.

Còn nữa, cho dù có muộn, nhưng sử sách rồi cũng phải ghi đầy đủ, khách quan, đúng sự thật các cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, không chỉ là cuộc hải chiến Trường Sa. Bởi vì, trên biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam không chỉ có một cuộc hải chiến chống xâm lược.

Lê Thanh Phong
Một số cá nhân có thể cố tình "quên" lịch sử, nhưng một dân tộc mà quên lịch sử của mình thì đó là tội lỗi không thể tha thứ.

Vô tình thu vắng lung linh nắng vàng
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

cỏ hoang

http://3.bp.blogspot.com/-5oQqT6JZZnQ/UZZY94qsypI/AAAAAAABRWw/HNa_iUYHEi8/s1600/ChungTa-Free-UyenKha-danlambao.jpg
GS Tương Lai: Nhân ngày 19.5: "PHẠM TỘI GÌ ĐÂY? TA THỬ HỎI TỘI TRUNG VỚI NƯỚC, VỚI DÂN À?"

Nếu 88 năm trước, Nguyễn Ái Quốc đau đớn thốt lên:"Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh" *
http://www.viet-studies.i...TuongLai_PhamToiGiDay.htm

Câu thơ Hồ Chí Minh viết trong "Ngục trung nhật ký" cách nay đúng 70 năm bỗng ngân vang trong những ngày tháng Năm cháy bỏng qua lời của Phương Uyên trước tòa án Long An ngày 16.5 :  “Tôi yêu nước, tôi thể hiện lòng yêu nước. Tôi không ngờ tôi bị bỏ tù vì thể hiện lòng yêu nước ấy... Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, chúng tôi làm xuất phát từ tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn".

Nếu 88 năm trước, Nguyễn Ái Quốc đau đớn thốt lên:"Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh" * thì hôm nay, những Phương Uyên, Nguyên Kha, và nhiều, rất nhiều bạn đồng trang lứa với họ không còn phải "hồi sinh" mà đang dõng dạc trước vành móng ngựa những lời đanh thép, biểu hiện ý chí, trí tuệ và khí phách của thế hệ trẻ trước cường quyền và tội ác. "Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi", lời của Nguyên Kha đã khẳng định thế thượng phong của công lý và chính nghĩa trước sự chà đạp lên pháp luật của những thủ đoạn vu khống, lừa mị và tàn ác nhưng hết sức vụng về và mong manh!







Chỉ có một điểm khác, một điểm khác đau đớn và xót xa, oái oăm và uất ức là những lời đanh thép đó không nói trước tòa án của thực dân cướp nước, lại nói với tòa án của một nhà nước nhân danh là "của dân, do dân và vì dân" mà xương máu của bao thế hệ Việt Nam cha anh của thế hệ trẻ hôm nay đã đổ ra để có nó, nhưng rồi hôm nay kết án Phương Uyên, Nguyên Kha lại là một tòa án của chế độ toàn trị phản dân chủ, phản nhân dân .

Bằng bạo lực và những công cụ quen thuộc của cường quyền nhằm khuất phục ý chí, nguyện vọng và sức phản kháng quyết liệt của tuổi trẻ, phiên tòa đáng xấu hổ ở Long An và những người giật dây cho những "rô bốt" ngồi ghế quan tòa đã không lường được bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh của hai sinh viên, một nữ, một nam tuổi đời còn rất trẻ. Có thể nói, đó cũng là bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại của nền văn minh mới với cuộc cách mạng thông tin mà chuẩn mực chính là sự thay đổi.

Không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được dòng thác của những biến động trong một thế giới không ngừng vận động mà kiểu tư duy tuyến tính tỏ ra bất lực và lạc hậu với tiến trình phi tuyến tính với những bước hợp trội nhằm tạo ra những đột phá không sao lường trước được. Sinh lực của tuổi trẻ đã đem lại cho họ khả năng nắm bắt được nhịp sống của thời đại để họ có thể vụt lớn lên, đủ sức đương đầu với mọi thử thách, đẩy tới sự phát triển của đất nước.
là lá trên rừng, là cỏ dưới đất, là nước Biển Đông...
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

cỏ hoang

(tiếp theo)

Hình ảnh sáng ngời của họ, tiếng nói dõng dạc của họ khác nào một tiếng sét giữa bầu trời u ám báo hiệu một cơn giông bão của lòng phẫn nộ đang dâng lên. Phẫn nộ của công luận xã hội về một bản án phi lý và bất công phơi bày đường lối sai lầm nhân danh ý thức hệ để biện hộ cho thái độ ngang ngược, xảo quyệt của Trung Quốc xâm lược. Phẫn nộ của giới trẻ tràn đầy xung lực muốn hiến dâng sức trẻ của mình cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc đang bị ngăn chặn, trấn áp và khủng bố dưới nhiều hình thức đê hèn và xảo trá. Phẫn nộ của giới trí thức đang ưu tư về vận nước, hiểu rõ đất nươc đang bị tụt hậu ra sao do duy trì quá lâu một mô hình thể chế lạc hậu phản dân chủ.

Càng xấu hổ và tệ hại hơn nữa khi cáo trạng nhân danh luật pháp luận tội các sinh viên yêu nước đã “nói những điều không hay về Trung Quốc”, phơi bày quá lộ liễu sự mờ ám trong việc cấu kết với kẻ thù xâm lược bằng những cam kết dại dột về "giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị" với tập đoàn hiếu chiến Bắc Kinh đang thè cái lưỡi bò ham hố và bẩn thỉu mưu toan liếm trọn Biển Đông, ngang nhiên hoành hành trên vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của tổ quốc. Trước phản biện quyết liệt của luật sư, tòa phải chống chế rằng truy tố các sinh viên không phải vì hành vi khẩu hiệu chống Trung Quốc để rồi buộc phải rút bỏ cáo buộc ê chề và nhục nhã đó!

Trên cái nền của sự rút bỏ bất đắc dĩ cáo buộc dại dột ấy đã nổi rõ lên dòng chữ viết bằng máu của cô nữ sinh viên Phương Uyên chống Trung Quốc xâm lược. Màu máu đỏ của trái tim yêu nước của cô gái Việt Nam kiên cường và xinh đẹp ấy mạnh hơn bất cứ loại vũ khí nào. Sức vẫy gọi của khẩu hiệu viết bằng máu ấy nối liền với truyền thống quật cường của ông cha ta từng khắc trên cánh tay hai chữ "Sát Thát" thể hiện khí phách hiên ngang trước một kẻ thù từng làm bằng địa nhiều vùng lãnh thổ từ Á sáng Âu để rồi đánh cho chúng tan tác, không chỉ một mà là ba lần trong ba thập kỷ nửa sau thế kỷ XIII. Sức vẫy gọi của khí phách ấy sẽ vượt qua mọi rào cản được dựng lên khắp nơi nhằm ngăn chặn sức lan tỏa của tinh thần yêu nước "kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" như Hồ Chí Minh đã từng viết.

Và cô gái mảnh mai ấy ngẩng cao đầu trước vành móng ngựa cường quyền phản dân chủ dõng dạc nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh: "Một năm bắt đầu từ mùa xuân, con người bắt đầu từ tuổi trẻ". Để rồi hiên ngang tuyên bố: "Tôi là sinh viên có lòng yêu nước. Nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì mọi người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước”. Đấy là một lời cảnh báo đanh thép của một cô gái từng bị đọa đày trong tù ngục không thiếu những thủ đoạn xấu xa nhằm lung lạc tinh thần và hành hạ thể xác, song đã không những không gục ngã mà còn sáng suốt chỉ ra được hệ lụy của những sai lầm không thể biện hộ của bạo quyền phản dân hại nước.

Không gì mỉa mai hơn ngày cô sinh viên yêu nước dũng cảm chống xâm lược ấy ra tòa để nhận lĩnh bản án khắc nghiệt cũng là ngày bắt đầu của lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông mà nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố, một hành động ngang ngược xúc phạm đến lòng tự tôn dân tộc, đòi hỏi phải dấy lên mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm của mỗi người Việt Nam có lương tri, đặc biệt là của thế hệ trẻ. Và có lẽ phải nói thêm: ngày này cũng là ngày người ta long trọng trao giải thưởng sáng tác "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ", không hiểu trong những sáng tác được trao giải ấy có nhắc đến điều cốt lõi nhất phải học tập và làm theo chính là ý chí "Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì chúng ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi”. Ở điểm cốt lõi này thì ai? Người vừa bị kết án tù do hành động yêu nước quyết "chiến đấu, quét sạch" quân xâm lược, hay người ngoan ngoản chăm chút trên trang giấy những lời tụng ca quen thuộc, cần được tôn vinh?

Bản án dành cho Phương Uyên và Nguyên Kha chính là bản án đối với truyền thống dân tộc yêu nước chống ngoại xâm, cũng là bản án đối với khát vọng dân chủ và quyền con người đang là một đòi hỏi bức xúc của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của thế hệ trẻ Việt Nam. “Bản án này cho thấy sự phá sản của thành tích nhân quyền của Hà Nội. Trong khi nhà cầm quyền Việt Nam nói họ hành xử theo luật pháp và tôn trọng nhân quyền thì các bản án này chứng tỏ họ chỉ hành xử theo quyền lợi của đảng cộng sản cầm quyền, bất chấp quyền căn bản của con người bị chà đạp” như tổ chức Human Rights Watch cáo buộc.

Sự phẫn nộ dâng trào với bản án bất công, kết tội lòng yêu nước chống ngoại xâm, phản dân chủ, chà đạp lên quyền con người đang kết thành một làn sóng mà sức lan tỏa của nó sẽ vô cùng rộng lớn.  Khi phong trào dân chủ gắn làm một với tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, sẽ hình thành những bước hợp trội, tạo ra những đột phá như đã nói ở trên, đẩy tới những chuyển biến không thể tiên liệu được!

Kết thúc "Ngục trung nhật ký" có câu "Sự vật vần xoay đà định sẵn, Hết mưa là nắng hửng lên thôi.". Quả có thế thật, nhưng hình như những ngày tháng năm nóng bỏng này lại đang báo hiệu những cơn giông!





Tác giả gửi cho viet-studies ngày 18-5-13
là lá trên rừng, là cỏ dưới đất, là nước Biển Đông...
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 56 trang (551 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [49] [50] [51] [52] [53] [54] [55] ... ›Trang sau »Trang cuối