Trang trong tổng số 2 trang (18 bài viết)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Phụng Hà

Bài thơ cuối cùng của vua Lê Thánh Tông

 Từ tháng 11 năm Bính Thìn 1496, vua không khỏe. Tháng giêng năm Đinh Tị 1497, ngày 29, vua ốm nặng, bèn tựa kỷ ngọc, lệnh cho Hoàng Thái tử lên nối ngôi. Lúc sắp băng, vua có bài thơ tự thuật (cho tả hữu ghi lại). Vua mất ngày hôm sau.
Đây là bài thơ cuối cùng của vua:

Ngũ thập niên hoa thất xích khu,
Cương trường như thiết khước thành nhu.
Phong xuy song ngoại hoàng hoa tạ,
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù.     
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu,
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du.
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn,
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô?

Bản dịch:
Năm chục hoa niên bảy thước thân,
Lòng như sắt cứng bỗng mềm dần.
Gió lay khô héo hoa bên cửa,
Sương dãi gầy mòn liễu trước sân.
Trời biếc xa trông, mây thăm thẳm,
Kê vàng tỉnh giấc đối bâng khuâng.
Khuất lời cách mặt, non bồng vắng,
Băng ngọc du hồn nhập mộng chăng?

Nguồn: Đại Việt Sử Ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội-1993
( Người dịch bài thơ có lẽ là nhóm các ông Đào Duy Anh, Bùi Kỷ, Lê Thước, ...)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

kimlongkhanh

Giới thiệu thêm bài thơ nữa của lê Thánh Tông.

VỊNH NÚI CHIẾC ĐŨA NGOÀI CỬA THẦN PHÙ

Cắm cõi Nam Minh nẻo thủa xưa
Đời Nghiêu nước cả ngập hay chưa
    Nguồn tuôn xuống tanh tao sạch
    Triều dẫy lên mặn ngọt ưa
    Xóc xương kình tăm chẳng động,
    Dò rốn bể sóng khôn lừa.
Trời dành còn để An Nam mượn.
Vạch chước bình Ngô mãi mới vừa.
( Bài thơ này văn thể theo Đường luật, nhưng lại có chen vào những câu lục, đặc điểm của thơ Đường luật vào thời Trần, Lê )
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

letam

VUA HIỀN TÔI GIỎI

Cao Đế anh hùng cái thế danh
Văn Hoàng Chí dũng phủ doanh thành
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh
Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
Hiếu tôn Hồng Đức hoàng phi tự
Bát bách cơ Chu lạc thái bình.
 Vui là chính - Chính là vui!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà

Hội Tao đàn của vua Lê Thánh Tông

  Như chúng ta đã biết, vua Lê Thánh Tông lập ra Tao đàn nhị thập bát tú 騷坛二十八秀
(28 ngôi sao trên đàn thơ văn), tự xưng là Tao đàn đô nguyên soái. Theo Đại Việt sử ký toàn thư Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì tên của 28
thành viên của hội Tao đàn như sau, cùng khoa thi đậu Tiến sĩ của mỗi vị :

1.  Thân Nhân Trung ( Quang Thuận thứ 10, 1469 )
2.  Đỗ Nhuận (Quang Thuận thứ 7, 1466 )
3.  Nguyễn Sung Sác ( Quang Thuận thứ 10, 1469 )
4.  Ngô Luân ( Hồng Đức thứ 6, 1475 )
5.  Lưu Hưng Hiếu ( Hồng Đức thứ 12, 1481 )
6.  Nguyễn Nhân Bị ( Hồng Đức thứ 12, 1481 )
7.  Ngô Văn Cảnh ( Hồng Đức thứ 12, 1481 )
8.   Nguyễn Tôn Mậu , ( Hồng Đức thứ 12, 1481)
9.   Phạm Trí Khiêm ( Hồng Đức thứ 15, 1484 )
10. Nguyễn Quang Bật ( Hồng Đức thứ 15, 1484 )
11. Phạm Cẩn Trực  ( Hồng Đức thứ 15, 1484 )
12. Nguyễn Ích Tốn ( Hồng Đức thứ 15, 1484 )
13. Ngô Hoan ( Hồng Đức thứ 18, 1487 )
14. Phạm Nhu Huệ ( Hồng Đức thứ 18, 1487 )
15. Nguyễn Đức Huấn ( Hồng Đức thứ 18, 1487 )
16. Nguyễn Bảo Khuê ( Hồng Đức thứ 18, 1487 )
17. Bùi Phổ ( Hồng Đức thứ 18, 1487 )
18. Đỗ Thuần Thứ ( Hồng Đức thứ 18, 1487 )
19. Lưu Thư Ngạn ( Hồng Đức thứ 21, 1490 )
20. Ngô Hoán ( Hồng Đức thứ 21, 1490 )
21. Lưu Dịch  ( Hồng Đức thứ 21, 1490 )
22. Đàm Thận Huy ( Hồng Đức thứ 21, 1490 )
23. Phạm Đạo Phủ  ( Hồng Đức thứ 21, 1490 )
24. Dương Trực Nguyên ( Hồng Đức thứ 21, 1490 )
25. Võ Dương  ( Hồng Đức thứ 24, 1493 )
26. Ngô Thẩm  ( Hồng Đức thứ 24, 1493 )
27. Châu Hoản ( Hồng Đức thứ 24, 1493 )
28. Chu Huyên ( Hồng Đức thứ 24, 1493 )

   Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận là phó nguyên soái, được cử phê bình các thơ văn của
vua và các quan đương thời.
   Những sách khác còn nhiều chỗ chép thêm 4 vị sau đây, có lẽ bổ sung các vị quá cố hoặc là phụ thuộc thêm :
1. Lương Thế  Vinh ( Quang Thuận thứ 4, 1463 )
2.Phạm Phúc Chiêu ( Hồng Đức thứ 3, 1472 )
3. Lê Tuấn Ngạn ( Hồng Đức thứ 6, 1476 )
4. Nguyễn Trực ( Đại Bảo thứ 3, 1442 )

Trên Thi Viện chưa thấy thơ của các vị nầy.
--------------------------
Tham khảo :
- Đại Việt sử ký toàn thư
- Khâm định Việt sử thông giám cương mục
- Kho sách Hán Nôm, Nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam , Trần Văn Giáp,   
       Nxb Văn Hóa, Hà Nội, 1984
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hà Như

Phụng Hà viêt:
Hội Tao đàn của vua Lê Thánh Tông
 Như chúng ta đã biết, vua Lê Thánh Tông lập ra Tao đàn nhị thập bát tú 騷坛二十八秀
(28 ngôi sao trên đàn thơ văn), tự xưng là Tao đàn đô nguyên soái. Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì tên của 28
thành viên của hội Tao đàn như sau :
(kèm theo danh sách)

Như Hà Như được biết:
1- Nếu Hội Tao đàn (gồm 28 vị), bị khuyết, mới bổ sung người khác, danh sách trên là lúc ban đầu.
2- Sau này còn có Thái Thuận và cũng là phó Nguyên suý, hiệu Lữ Đường.
(tiểu sử và tác phẩm Thái Thuận có trong Thi Viện này)
3- Tác phẩm trong Hội gần như là sở hữu công cộng và ít phổ biến rộng rãi, có thể vì mục đích của Hội, nên làm khó dễ cho các đời sau.
Vậy xin trao đổi thêm.
Hà Như
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Phụng Hà

Quỳnh uyển cửu ca thi tập của vua Lê Thánh Tông

  Quỳnh uyển cửu ca 璚苑九歌 là chín bài ca làm ở vườn Quỳnh Dao. Nhân là vua thấy hai năm liên tiếp Quý Sửu (1493) và Giáp Dần (1494), thóc lúc được mùa, nên sai họp các bề tôi lại đặt các bài ca vịnh để ghi điềm lành. Chín bài theo chín đề tài là:

1/ Phong niên 豊年 (Năm được mùa)     [*]
2/ Quân đạo 君道 (Đạo làm vua)
3/ Thần tiết 臣 節 (Đạo làm tôi)
4/ Minh lương 明俍 (Vua sáng tôi giỏi)
5/ Anh hiền 英贒 (Các bực anh tài hiền triết)
6/ Kỳ khí 奇氣 (Khí lạ)
7/ Thư thảo 書草 (Chữ thảo)
8/ Văn nhân 文人 (Nhà văn)
9/ Mai hoa  梅花 (Hoa mai)

[*]  Đề tài thứ này, có sách ghi đầy đủ hơn là: Bách cốc phong đăng hiệp vu ca vịnh (Mùa màng tươi tốt phổ vào khúc ca)

  Mỗi đề tài có một bài xướng của vua và nhiều bài hoạ của các vị trong hội Tao đàn. Vua viết bài ngự chế rằng:

 "Lúc rảnh sau muôn việc, trong khoảng nửa ngày, mắt xem rừng sách, lòng dạo vườn văn, ở yên cao hứng, bèn hăng hái nghĩ đến phép lớn của
các bực đế vương thánh triết, đến lòng cặn kẽ của những bề tôi trung lương, mới gọi Chử sinh (giấy), Mao thị (bút), nắm Huyền thượng khách (mực), dẫn Thạch trọng thần (nghiên), bảo cho biết rằng: Tình của ta thư thái, khí tinh anh cuồn cuộn tuôn ra, lời khuôn mẫu tưng từng lớp lớp, các ngươi có thể vì ta ghi lấy được không? Bốn gã chắp tay cúi đầu thưa rằng:
Hoàng thượng tuổi cao học nhiều, bụng rộng, thân lớn, bỏ cái vui thú đàn hát trước mắt, để phát huy cái học trong sáng đời xưa, tựa vào lòng nhàn, thích chơi văn nghệ, xét vật giúp người đúng như lời ca vua tôi vui vẻ của đời Ngu, bài hát dân gian chơi đùa của đời Đường, thực là đẹp và thịnh vậy! Sao chẳng phô bày tỏ ý tốt ấy, gọi cả bầy tôi, cho cùng hoạ vần trình nghề, khiến cho tình dưới được thấu lên trên, nhả khí rực rỡ như cầu vồng, rạng vẻ sáng tươi của khuê tảo? Chúng tôi chỉ biết nhặt chép mọi lời, còn làm cho đẹp thêm đâu dám nghĩ đến?
  Ta ngồi yên ngẫm nghĩ hồi lâu, bèn viết ra chín bài thơ cận luật, nét chữ sáng rỡ trên giấy vàng. Rối sai họp các học sĩ là bọn họ Thân, họ Đỗ, họ Ngô, họ Lưu [1] và bọn Hàn lâm họ Nguyễn, họ Dương, họ Dương, họ Chu, họ Phạm [2] tất cả là 28 người, ứng với nhị thập bát tú, thay nhau cùng hoạ, có đến vài trăm bài …"

[1] Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Ngô Luân, Lưu Hưng Hiếu
[2] Nguyễn Quang Bật, Dương Trực Nguyên, Chu Huân, Phạm Trí Khiêm


Tài liệu tham khảo:

1/ Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993
2/ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992
3/ Phê bình, bình luận văn học, LÝ TẾ XUYÊN, VŨ QUỲNH, KIỀU  
   PHÚ,LÊ THÁNH TÔNG,NGÔ CHI LAN,NGUYỄN BỈNH KHIÊM
,     
   Nxb Văn Nghệ, TP HCM, 1998
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

.

“Đạo người' trong thơ Lê Thánh Tông


(phần 1)
 

1. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1417-1427) thắng lợi đã mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, thời kỳ xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền cao độ. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, nạn ngoại xâm phương Bắc bị đánh bại hoàn toàn.
Tình hình đó đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi để củng cố nền chính trị và đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước. Nhân dân Đại Việt tích cực sản xuất trong không khí hồ hởi của một nền hoà bình vừa được giành lại. Nền nông nghiệp lâu đời tiếp tục được coi trọng, trong đó ruộng đất được nhà nước phong kiến quan tâm hàng đầu. Nhà Lê thời kỳ này rất chăm lo đến sự phát triển kinh tế, thi hành một số biện pháp tích cực thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Đó là chính sách khẩn hoang, lập đồn điền, xây dựng đê điều và các công trình thuỷ lợi; nhưng quan trọng nhất là chính sách ruộng đất với chế độ lộc điền và quân điền. Nhà Lê tịch thu ruộng đất trong tay quân Minh và bọn tay sai, tịch thu điền trang thái ấp của quý tộc trước đây, cộng với ruộng hoang hoá; tất cả sung làm ruộng đất công. Với quỹ đất công lớn, nhà Lê đã sử dụng một phần ban cho quý tộc tôn thất và quan lại cao cấp (lộc điền[1]), phần lớn bổ sung cho công xã để chia cho dân cày cấy (quân điền). Phép quân điền được Lê Lợi ban hành năm 1429 và hoàn thiện vào thời Lê Thánh Tông; bộ luật quân điền được chép trong  Thiên Nam dư hạ tập  năm 1481[2]. Như vậy, ruộng đất phong thì được thu hẹp lại còn ruộng đất công xã trực tiếp đến tay người dân thì được mở rộng thêm.
Chính sách này cho phép giải quyết khá ổn thoả mối quan hệ sở hữu ruộng đất giữa nhà nước với quý tộc quan lại và giữa nhà nước với nhân dân. So sánh với triều đại Lý - Trần, khi mà chế độ điền trang thái ấp còn chiếm vị trí cao, thì rõ ràng chính sách ruộng đất triều Lê tỏ ra phù hợp hơn với tính chất tập trung của chính quyền phong kiến mới. Mốc quan trọng này đánh dấu sự chuyển biến từ chế độ quân chủ quý tộc sang chế độ quân chủ quan liêu, mà ở đó tính tập quyền ngày càng thể hiện rõ nét, đẩy lùi dần tính phân quyền do sự phân tán về kinh tế trước kia gây nên. Có thể coi đây là sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển của lịch sử phong kiến Việt Nam, mà từ nay sẽ quy định những hình thái ý thức xã hội mang những nét đặc trưng khác thời kỳ trước.
Đến triều Lê Thánh Tông (1460-1497), nông nghiệp càng được chú trọng. Vua đích thân đi cày đầu năm (lễ Tịch điền) để cổ vũ cho mùa vụ mới. Một năm sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông ra sắc chỉ cho các quan phủ, huyện, lộ, trấn rằng: “Từ nay về sau, trong việc làm ruộng, phải khuyến khích quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không được bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán, làm trò du thủ du thực. Người nào có ruộng đất mà không chăm cày cấy, thì quan cai trị bắt trình trị tội”[3]. Sự phân biệt nghề gốc (bản nghệ) là nghề nông tang với nghề ngọn (mạt nghệ) là nghề thủ công và buôn bán đã khắc sâu tư tưởng “trọng nông, ức thương”. Một mặt, nó phát huy được sức sản xuất trong nông nghiệp, nhưng mặt khác, cũng làm cho xã hội phong kiến không thoát ra khỏi hạn chế của nó là nền kinh tế tự nhiên khép kín. Kết hợp với tư tưởng “trọng Nho”, nhà Lê đã thể hiện sự phân tầng xã hội tương đối rõ rệt: trong triều, cao nhất là vua rồi đến quý tộc và quan lại; ngoài triều, xã hội phân thành tứ dân (sĩ, nông, công, thương). Do đó, quan niệm “Đạo người” cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của cơ sở hạ tầng xã hội ấy, biểu hiện ở các tính chất như hướng về sự no ấm của nhân dân, hoàn thiện hệ thống đạo đức lấy phẩm chất của kẻ sĩ làm đầu, xây dựng và củng cố những chuẩn mực quan hệ xã hội trên cơ sở giữ vững vị trí tối cao của nhà vua phong kiến.
Sau khi giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của giặc Minh, lịch sử đặt ra trước hết cho triều Lê vấn đề lựa chọn con đường để xây dựng một nước Đại Việt hoà bình thịnh trị. Trong đó, những mô hình nhà nước phong kiến trong lịch sử, ở nước ta (như Lý, Trần), ở Trung Hoa (như Hán, Đường, Tống, Minh) và nhất là cuộc cải cách của nhà Hồ (1400-1407) với cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực của nó, tuy còn dang dở, đã đưa lại những bài học quý báu cho giai cấp phong kiến triều Lê. Vào thế kỷ XV, dù xã hội phương Tây đang có những cuộc vận động mạnh mẽ nhằm thoát ra khỏi “đêm trường Trung cổ”, nước Đại Việt nói riêng và phương Đông nói chung vẫn còn “ngủ yên”. Việc đổi mới xã hội phong kiến là mục tiêu của giai cấp thống trị. Một khi cơ sở hạ tầng chưa phát triển tạo đà biến đổi toàn diện xã hội thì kiến trúc thượng tầng, nhất là hệ tư tưởng, giữ vai trò tiên phong trong bước đường cải tạo ấy. Cho nên có thể đánh giá sự đề cao Nho học trong thời kỳ này có tác dụng hoàn thiện ý thức hệ phong kiến, thiết lập trật tự xã hội, đưa xã hội tiến lên - và nhà Lê đã chọn con đường đó. Vì thế, đến đời Lê Thánh Tông, “bộ máy hành chính cũng như tổ chức quân đội và hoạt động lập pháp của nhà Lê đạt đến mức hoàn bị với những thiết chế chặt chẽ”[4]. Mặc dù có những mâu thuẫn nội bộ, điển hình là loạn Nghi Dân (1459), gây xáo trộn cục diện chính trị đang dần đi vào thế ổn định nhưng đã nhanh chóng được dẹp yên, mở ra một thời kỳ thịnh vượng kéo dài.
Sự phát triển kinh tế và chính trị nói trên đã tạo điều kiện cho văn hoá - tư tưởng được truyền bá rộng rãi, ăn sâu trong dân chúng. Nho giáo tuy giữ địa vị độc tôn nhưng cũng phải chịu sự chi phối của ý thức dân tộc. Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế, phải biến đổi, đi vào dân gian, nhập với dòng tư tưởng dân gian để tồn tại. “Hai đối cực tư tưởng” này tác động qua lại lẫn nhau tạo nên diện mạo tư tưởng Việt Nam thời đại Lê sơ với những đặc sắc của nó. Văn hoá phát triển còn thể hiện trên nhiều lĩnh vực như: giáo dục - thi cử được mở mang (đặc biệt là thời Lê Thánh Tông[5]), văn học - nghệ thuật nở rộ (với các tác phẩm, tác giả tiêu biểu như  Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh, Quốc âm thi tập  của Nguyễn Trãi; Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn; thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông; Hý phường phả lục  của Lương Thế Vinh (1501) có thể coi là tác phẩm lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ truyền, v.v...), sử học, địa lý, y - dược học, toán học... cũng có những thành tựu nhất định (với những tên tuổi như Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên -  Đại Việt sử ký toàn thư; Nguyễn Trãi -  Dư địa chí; Phan Phu Tiên –  Bản thảo thực vật toát yếu;  Lương Thế Vinh -  Đại thành toán pháp; Vũ Hữu   Lập thành toán pháp;  .v...). Điều này chứng tỏ nhận thức xã hội đã được nâng cao, đời sống nội tâm ngày một phong phú; cũng có nghĩa là ý thức về con người nói chung và đạo người nói riêng đã đạt đến mức độ sâu sắc đáng kể.
Trực tiếp tác động đến tư tưởng của Lê Thánh Tông là những nét tích cực nhất của truyền thống tổ tông và tư tưởng của Nguyễn Trãi. Ông thừa hưởng ở triều Lê Thái Tổ (1428-1433) tư tưởng “ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc... xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện”[6], tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi; thừa hưởng ở triều Lê Thái Tông (1434-1442) tinh thần “bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo sùng Nho, mở khoa thi, chọn kẻ sĩ”[6]; thừa hưởng ở triều Lê Nhân Tông (1443-1459) quan niệm “thương người làm ruộng, yêu muôn dân”[6]. Đối với tư tưởng ngoại lai, nhất là Nho Trung Quốc, Lê Thánh Tông có tinh thần Việt hoá một cách tích cực. Vì thế, không phải vô cớ mà nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận xét: “Đại Việt là một quốc gia dân tộc độc lập trong lòng nền văn minh Trung Hoa”[7].
Lê Thánh Tông (1442-1497) là một trong những vị vua có thời gian ở ngôi lâu nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với gần 38 năm trị vì đất nước dưới hai niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), đã mở ra một thời kỳ võ công - văn trị rực rỡ. Xét những tư tưởng, đường lối trị nước của ông, có nhà nghiên cứu nhận định triều Lê Thánh Tông để lại dấu ấn của một cá tính mạnh. Ông đóng vai trò quan trọng đưa đất nước đi vào ổn định, kỷ cương bằng việc kết hợp hài hoà lễ trị và pháp trị; đồng thời đưa khoa cử thành nền nếp, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Trong đường lối đối ngoại, ông tỏ ra là người có tầm nhìn chiến lược khi một mặt giữ vững cương thổ phía Bắc, mặt khác mở mang lãnh thổ xuống phía Nam, nâng cao vị thế Đại Việt. Ngoài ra, ông còn là một nhà văn - nhà thơ giàu cảm xúc, sáng tác nhiều bằng cả chữ Nôm lẫn chữ Hán, lập ra Hội Tao đàn mà đích thân làm chủ soái.

Hà Huy Tuấn

(còn tiếp)
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

.

“Đạo người' trong thơ Lê Thánh Tông

(Tiếp theo)
Hoàn cảnh xuất thân của Lê Thánh Tông tuy còn nhiều tồn nghi nhưng đã xuất hiện những nét làm nên cá tính của ông sau này. Ông sinh ngày 20/7 năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3, đúng vào năm ngôi sao sáng nhất thế kỷ XV trên bầu trời nước Việt - Nguyễn Trãi - phải chịu án oan khuất do vụ đột tử của Lê Thái Tông (1442). Thuở nhỏ, ông đã phải cùng mẹ (Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao) rời hoàng cung, ra ở chùa Huy Văn, nương náu trong dân gian. Có lẽ vì thế, tư tưởng và hành động của ông về sau luôn giữ được sự gần gũi với dân chúng. Năm Thái Hoà thứ 3 (1445), ông được Lê Nhân Tông phong là Bình nguyên vương, “vào ở Kinh sư, hàng ngày cùng với các thân vương ở toà Kinh diên để học tập”[[8]]. Với tư chất “thông minh hơn người”, lại chăm chỉ “sớm khuya không rời quyển sách”[8], Lê Thánh Tông nhanh chóng trở thành một người học rộng tài cao, quảng bác, tiếp nhận cả dòng văn hoá bác học lẫn dòng văn hoá dân gian. Điều này rất có ý nghĩa đối với sự hình thành tư tưởng của ông. Lê Thánh Tông được các trung thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt rước lên ngôi ở độ tuổi thanh niên sung sức (18 tuổi) sau khi dẹp xong loạn Nghi Dân, giúp ông có được niềm tin và ý thức chấn hưng triều đại, đem lại thái bình, no ấm cho muôn dân, giàu mạnh cho đất nước. Ý thức này giữ vai trò định hướng cho mọi tư tưởng và hoạt động trị nước của ông. Bản tính “ưa điều thiện, thích người hiền”[8] cũng là nhân tố chủ quan quan trọng góp phần xây dựng những giá trị hướng đến Chân - Thiện - Mỹ trong quan niệm về “Đạo người” của ông.
2. Lê Thánh Tông cho rằng cuộc sống của con người trên trần thế là hữu hạn, con người do bẩm thụ tinh khí âm dương của trời đất mà thành, con người cũng phân chia ra phần hồn và phần xác: “Ngựa cửa sổ, kiến đầu cành, xem ngày tháng dễ qua thoắt thoắt; bọt ghềnh sông, vờ mặt nước, tựa thân thời kíp biến mờ mờ [ ... ] ấy vậy, hồn là thần, phách là quỷ; no nên bụt, đói nên ma [ ... ]. Huống chi cô hồn bay: Thác sinh trần thế, chịu khí âm dương...” (Bài mở đầu,   Thập giới cô hồn quốc ngữ văn [TGCHQNV])[9]. Lê Thánh Tông cũng cho rằng, con người có thể nhận biết được sự xoay vần của vũ trụ càn khôn, đôi lúc ông đề cao trực quan của con người (Tai sáng mắt tinh rốt cuộc sẽ không lầm lỗi) và thấy được vai trò của đời sống vật chất. Vì thế, khi hành sự, ông luôn chú ý suy xét một cách linh hoạt để hiểu rõ được lẽ màu nhiệm của sự việc: "Nhân khi cơ biến xem người biết/ Chứa thuở kinh quyền xét lẽ màu". Thậm chí, ông còn đề cao sức mạnh của con người đối với tự nhiên: “Bỗng kinh ngạc về cái sức xoay lại sức trời của chiếc quạt lụa”,  Đề phiến - kỳ nhất; “Quạt kia dư sức thật/ Đuổi mặt trời chạy dài”,  Đề phiến - kỳ lục; “Tay trái xoay chuyển trời, tay phải xoay chuyển đất”,  Đề Trịnh thái uý Khả từ  v.v...
Về cơ bản, Lê Thánh Tông thừa nhận con người (cũng như vạn vật trong vũ trụ) luôn sinh thành, biến hoá không ngừng theo đạo của nó. “Đạo” không phải cái gì khác hơn là đạo trời - một thế lực vô hình và huyền diệu, có sức mạnh giữ cho “âm” - “dương” được “trung hoà”, từ đó mà tác thành nên vạn vật. Do vậy, Lê Thánh Tông thể hiện “Đạo người” như là cái vốn có của con người, hoặc do trời phú hoặc do sự giáo hoá theo thiên mệnh. Nói khác đi, đạo người (nhân đạo) được sản sinh ra, được quy định bởi đạo trời (thiên đạo), mà Thiên tử chính là người được giao trách nhiệm thay trời “nhận dân, chăm dân, huệ dân”, giáo hoá dân chúng hợp với lẽ trời. Nhiều chỗ ta bắt gặp Lê Thánh Tông tụng ca về sự tôn kính trời như: Tự thuật (thơ Nôm), Quỳnh uyển cửu ca thi tập [QUCC] bài thứ nhất và bài thứ 2, hay Thiên mệnh hữu tại hề địa hữu tình (“Mệnh trời có nơi chừ đất có tình”, Lam Sơn Lương Thuỷ phú).
Thế giới quan Nho giáo là cơ sở để Lê Thánh Tông trình bày những quan niệm về “Đạo người”. Tuy nhiên, trong tư tưởng của ông, “Đạo người” mang tính chất thực dụng chứ không xa vời, cao siêu; tức là chủ yếu xây dựng những cái mà con người cần làm để đạt đến phẩm chất người hoàn thiện, hữu dụng trong đời sống xã hội. Đối với ông, đạo người được bộc lộ rõ nét nhất trong lĩnh vực đạo đức. Ở khía cạnh này, đạo người được xem như là những phẩm chất tốt đẹp hằng có của con người mà mỗi cá nhân đều phải hướng tới bằng việc tích cực tu dưỡng, nhất là tu dưỡng học thuật, rèn luyện bản thân (tu thân).
2.1. Như trên đã nói, những phẩm chất con người được Lê Thánh Tông đề xuất, căn cứ đầu tiên vào phẩm chất kẻ sĩ. Ông tập trung vào một số phạm trù chính của Nho gia truyền thống để diễn đạt hệ thống đạo đức, bao gồm: Nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, trung, chính, trực, cung, khoan... Trong đó, vượt lên trên và bao trùm tất cả là đức Nhân. Theo nghĩa hẹp, “Nhân” là yêu người (ái nhân); theo nghĩa rộng, “Nhân” là đạo sống của con người phải hợp với trời đất, với “thiên lý”. Nhân là đức cơ bản làm nền tảng cho đạo đức Nho giáo, cho nên nó được đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất, toàn thiện nhất, là cái gốc của đạo người.
Mượn ý từ Kinh Dịch, quẻ càn: “Bậc đại nhân hợp đức với trời đất, hợp với ánh sáng mặt trời, mặt trăng, hợp với thứ tự bốn mùa, hợp với sự lành dữ của quỷ thần”, Lê Thánh Tông khái quát đức Nhân là phải “vâng mệnh trời, hợp với đức, thể tình bậc đại nhân”. (    Phụng thiên hợp đức đại nhân tình, Khải hành thi - kỳ tam, Chinh tây kỷ hành thi tập bài thứ 3 [CTKH-3]). Ông nói đến lòng nhân của mình không thể sánh với phúc trời: “Ban bố ân đức, thi hành nhân chính, quả là ta chưa làm được/ Được mùa liên tiếp ấy là do trời ban phúc cho vậy” (QUCC-1). Dầu vậy, Lê Thánh Tông không ngơi việc “bố đức thi nhân” bằng những hành động cụ thể mang tính thương người sâu sắc. Ông mừng cho người dân được mùa, lo cho người dân buổi “thóc cao gạo kém”, sản vật rẻ rúng: "Vạn khoảnh thanh thanh thị hạ điền/ Tề dân đương dĩ thực vi thiên" (Muôn khoảnh ruộng lúa chiêm xanh tốt/ Việc nuôi dân phải lấy ăn làm gốc, Hỉ cốc thi ), và "Hải tân ngư tự thổ/ Thị thượng mễ như kim" (Vùng biển cá rẻ như đất/Trong chợ gạo đắt như vàng,  Đông tuần trú Đồng cảng ).
Những điều ấy cho thấy quan niệm “Nhân” của Lê Thánh Tông hướng tới sự thực dụng, chứ không dừng lại ở những suy lý đơn thuần. Vượt lên “sự tâng bốc” Tống Nho đương thời, Lê Thánh Tông quan niệm “Nhân” gần gũi với đời sống xã hội, với tâm hồn, tình cảm của người dân Đại Việt. Không những thế, ông còn gắn lý luận với thực tiễn, chủ trương xây dựng hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của các cá nhân và xã hội trong vòng trật tự, mà ở đó nguyên tắc nhân đạo cũng được tính đến như một nguyên tắc quan trọng. “Nguyên tắc này được thể hiện ở chính sách xử lý nhân đạo đối với một số người phạm tội nhất định như phụ nữ, người già, người tàn tật, trẻ em”[[10]]. Chẳng hạn đàn bà phạm tội không phải chịu “trượng hình”(đánh bằng trượng) mà chỉ phải chịu “xuy hình”(đánh bằng roi); đàn bà chịu tội “lưu hình”(đi đày) không phải đeo xiềng như đàn ông.(Điều 1, chương Danh lệ[[11]]). Điều 16, 17, chương Danh lệ có những quy định khoan hồng với người già và trẻ em, người có hoàn cảnh đáng thương hoặc có tài năng đáng tiếc[11]. Ngoài ra, nguyên tắc nhân đạo còn áp dụng đối với người phạm tội ra tự thú, được tha tội hoặc giảm tội, trừ những tội thập ác (Điều 18, 19, chương Danh lệ[11]).
“Nhân” là đức lớn của người quân tử. Muốn làm được điều nhân cần phải có một tấm lòng trong sáng không gợn chút dục vọng, phải thành thật, hết lòng hết dạ. Lê Thánh Tông hiểu rõ lẽ chí tâm chí thành đó của đạo làm người, thường ví lòng nhân sáng rỡ và thanh khiết như trăng thu, tiết tháo mạnh vững và trường tồn như tùng bách. Ấy là điều mà Kinh Thư đã viết: “Đạo tâm duy vi, nhân tâm duy nguy”. Đạo tâm (lòng đạo) là tinh thần đạo đức thanh cao khó nắm giữ, nhân tâm (lòng người) là những dục vọng tầm thường dẫn đến những nguy cơ cho con người.

"Đạo tâm thanh tự tam thu nguyệt
Kình tiết cao ư vạn trượng tùng".

( Giang hành ngẫu thành - kỳ bát )

(Còn tiếp)
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

.

“Đạo người' trong thơ Lê Thánh Tông


(Tiếp theo)

Đối với “lễ”, “nhân” là chất, là nội dung được biểu hiện ra hình thức là lễ nghĩa, lễ nghi trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của xã hội. Cũng như những người theo đuổi mục tiêu “đức trị”, Lê Thánh Tông rất coi trọng lễ nghĩa. Nhiều khi chỉ xét đến lễ nghĩa cũng đủ để kết luận phẩm chất, đức hạnh của một người là tốt hay xấu. Thậm chí, ông còn coi “lễ” là tiêu chí cao nhất để phân biệt giữa con người có tính người với loài cầm thú: “Trẫm nghĩ, người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ làm khuôn phép giữ gìn. Nếu không có lễ thì tình dục bừa bãi, phóng đãng xằng bậy, không gì không làm” (Sắc dụ 18/7/1469 niên hiệu Quang Thuận thứ 10)[[12]]. Đương nhiên, “lễ” ở đây là những quy phạm, những chuẩn mực đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội. Song nếu đề cao một cách cực đoan “lễ” thì chỉ là hình thức sáo rỗng mà thôi, biểu hiện ra ngoài là sự rườm rà lễ nghi, nghi thức gây nên nhiều phiền toái, tiêu cực trong xã hội. Nhận thức được điều đó, Lê Thánh Tông quan niệm đạo đức gắn với đời sống vật chất: “Lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân, nông tang để có đủ cơm áo. Hai điều đó là việc cần kíp của chính sự, là chức trách của các quan nuôi giữ dân”[12]. “Phục Lễ vi Nhân” trên thực tế đã được Lê Thánh Tông vận dụng uyển chuyển trong cả tư tưởng đạo đức và tư tưởng chính trị, coi đó như là phương tiện chủ yếu để giáo hoá con người.
Tiếp thu tư tưởng Nguyễn Trãi về “Nhân - Trí - Dũng”, Lê Thánh Tông với cương vị một bậc quân vương, rất nhấn mạnh trí và dũng, coi đó là một cặp song hành không thể thiếu trong một con người biết hành đạo. Muốn đạt được đức Nhân, con người cần phải có trí dũng. Bởi vì chỉ có như thế, con người mới có khả năng và bản lĩnh xét đoán sự việc, phân biệt phải trái, hiểu thấu đạo lý; từ đó mà hành động hợp với “thiên lý”. Nếu “nhân” là cây tùng, cây bách thì “trí” và “dũng” là huyết mạch, cành lá của cây, giúp cây hút dưỡng chất, thở khí trời mà sum suê, xanh tốt. “Trí” bao hàm “tri”, song “trí” không chỉ là sự học rộng hiểu sâu mà còn là năng lực vận dụng sáng tạo những điều hiểu biết đó vào trong cuộc sống của con người. Lê Thánh Tông rất trọng việc học, từng ra  Chiếu khuyến học  khuyên dụ học trò, sĩ tử, nho sinh trong cả nước ngày đêm chăm lo đạo học của mình.
"Từng nghe:
Người quân tử được tiếng là “thành đức”, quý ở chỗ có đủ cả “thể” lẫn “dụng”;
Bậc Nho giả cầu cái học vì mình, quan trọng ở chỗ có thuỷ có chung.
Nếu sớm tối không cần cù;
Tất công phu sẽ gián đoạn".
Đó rõ ràng không thể là cái học hời hợt mà phải là sự đào sâu suy nghĩ, rèn luyện chuyên cần, “sôi kinh nấu sử”, tìm hiểu cái mới... - thì mới thực là trí.
"Ngồi ngay ngắn, đứng trang nghiêm, học rồi thường xuyên luyện tập;
Tâm ngay chính, ý chân thành, đức mong ngày càng thêm mới.
Đào sâu kỹ những điều đã biết;
Hăng say tìm những lẽ chưa thông".
Ông cũng chỉ ra nội dung thiết thực, có ích cho nhân sinh xã hội, phê phán sự học chỉ chuộng phù phiếm hình thức, tầm chương trích cú, đẽo gọt câu văn. "Thực học" phải là "Lập tâm ngay chính, giữ nếp nhà êm đẹp, theo đạo ấy một cách nhất quán/ Khác hẳn hạng chỉ biết đẽo gọt, tranh nhau sự kỳ lạ/ Vì người hay vì mình là điều phải phân biệt trước tiên/ Mong trở thành bậc thánh, bậc hiền cốt là ở sự hiểu biết thấu đáo". Thực học ấy mới giúp cho kẻ sĩ  một phong cách đầy đặn trở nên bậc  chân Nho, có như thế mới  giữ cho triều đại nên sự nghiệp lớn.
Đó là “học để biết” không tách rời với “học để làm”. Đối với giới nho sĩ, tầng lớp trí thức thời phong kiến, hoài bão giúp dân, giúp nước, giúp đời bằng chính sở học của mình luôn đeo đẳng trong tâm trí họ. Không phải ngẫu nhiên mà quan niệm “học để ra làm quan” trở thành tiêu chí cho mọi thế hệ nho sinh. Bản thân Lê Thánh Tông cũng là một người miệt mài học tập đến độ  trống dời canh còn đọc sách, cho nên ông có kiến thức quảng bác để nung nấu ý chí  tìm tòi kế sách xây đời thịnh. Một mặt, Lê Thánh Tông coi trọng tri thức sách vở (sách  Thánh hiền ), xem đó là cốt lõi của sự hiểu biết (tri); mặt khác, ông cũng không coi khinh tri thức thực tiễn. Nếu chỉ trông vào một lý lẽ mà bàn suông thì dễ đi đến sai lầm trong nhận thức, giống như chỉ nhìn thấy một cánh chim thôi mà dám ngang nhiên đàm đạo bừa bãi từ xa về cả bầu trời. (Thục tương nhất điểu vọng đàm thiên, Giang hành ngẫu thành - kỳ thập nhị ).
“Dũng” là bản lĩnh của con người trong hoạt động thực tiễn. Nó bao gồm sự tỏ rõ chính kiến, sự tự chủ bản thân, sự uy vũ khi cần thiết và sự khắc phục khó khăn không nao núng. Lê Thánh Tông từng nhiều lần thân chinh cầm quân ra trận, đánh dẹp các tộc Chiêm, Ai Lao, Bồn Man. Cái dũng đó được ghi lại trong CTKH như: Quân vương thiên lý viễn tồ chinh, Quân vương vạn lý nhất nhung y, Quân vương giá ngự tư quần sách,  v.v... Kết hợp hài hoà tuỳ theo hoàn cảnh giữa việc dùng văn hay dùng võ cũng là cái dũng của kẻ trí, nhất là trong việc trị nước. Khi đất nước đã thái bình thì “chính là lúc sửa sang việc văn, tạm dẹp việc võ” ( Ngự chế Thiên nam động chủ đề, Châu cơ thắng thưởng thi tập bài thứ 6 [CCTT-6]). Nhưng ông cũng cảnh báo rằng “người xưa sai lầm vì lúc an cư yên ổn lại lơ là việc binh” (CTKH-14). Dù là người chủ trương “đức trị”, Lê Thánh Tông trọng văn nhưng không khinh võ. Ông từng viết: “Cầu bậc tài giỏi rộng khắp, phô văn đức/ Hỏi han việc binh nhung, coi trọng tướng quyền” ( Ngự chế Quân đạo thi, QUCC-2). Bên cạnh đó, “dũng” còn là sự thẳng thắn chỉ ra sai lầm và nhận sai lầm nếu mình mắc phải. Lê Thánh Tông thường dụ các triều thần rằng: “Ta có lỗi lầm gì, hãy thẳng thắn chỉ ra, chớ quen thói giấu giếm”[[13]]; thể hiện ý thức tự chủ, một tinh thần cầu thị.
Mối quan hệ giữa trí và dũng là mối quan hệ tương hỗ tạo nên một con người vừa có tài vừa biết sử dụng tài năng của mình vào việc hữu ích. Có trí mà không có dũng thì khó làm được việc mà trí bị bỏ phí, còn có dũng mà không có trí thì làm việc dễ thất bại (hữu dũng vô mưu). Người nào hội tụ đủ ba đức cần thiết: Nhân, trí, dũng - ấy là người có sức mạnh làm nên nghiệp lớn. Do đó, không phải vô cớ mà Nguyễn Trãi - ngôi sao sáng nhất của thế kỷ XV- đã tập trung xây dựng hệ thống giá trị “nhân - trí - dũng” trên cơ sở kế thừa quan niệm “ngũ thường” của Nho giáo làm thước đo cơ bản để đánh giá con người. Đến Lê Thánh Tông, “nhân - trí - dũng” một lần nữa được khẳng định là một hệ thống có thể tồn tại độc lập tương đối với “ngũ thường”: “Đạo trời mạnh chí cương, đạo đất thuận vô lường, làm vua đủ trí dũng, cho nước được phồn xương”[[14]].

----------------------
Chú thích:
[1] “Theo thể lệ quy định năm 1477 thì chỉ bà con của nhà vua và quan lại từ tứ phẩm trở lên mới được cấp lộc điền”. Xem Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên),  Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.265.
[2] Theo Vũ Minh Giang, Mấy suy nghĩ về chính sách ruộng đất thời Lê Thánh Tông. Trong Lê Thánh Tông (1442-1497) - con người và sự nghiệp,  Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr.206.
[3] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy (biên soạn), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.393.
[4] Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên), sđd, tr.269.
[5] Xem Mai Xuân Hải, Khoa cử thời Lê Thánh Tông. Trong  Hoàng đế Lê Thánh Tông - nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn,  Nxb KHXH, Hà Nội, 1998, tr.313-338.
[6] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy (biên soạn), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr.240, 319, 358.
[7] Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6, 1997, tr.25.
[8] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy (biên soạn), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, tr.174, 318.
[9] Những tác phẩm của Lê Thánh Tông trích trong bài này chúng tôi lấy theo:
- Mai Xuân Hải, Lê Thánh Tông - thơ văn và cuộc đời, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1998.
- Mai Xuân Hải (chủ biên),  Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
[10] Hoàng Thị Kim Quế, Một số vấn đề về sự điều chỉnh pháp luật nhà Lê trong Quốc triều hình luật. Trong  Hoàng đế Lê Thánh Tông- nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.122.
[11] Xem Vũ Huy Phúc (khảo cứu), Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Tá Nhí (dịch),  Quốc triều hình luật (luật hình triều Lê), Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1991, tr.33-35, 40-41, 41-42.
[12] Lê Văn Hưu (1993), sđd, tr.438, 497.
[13] Lê Văn Hưu (1985), sđd, tr.405.
[14] Lê Văn Hưu (1993), sđd, tr.440.

Còn tiếp
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

SonnetLX

Phụng Hà đã viết:
Bài thơ cuối cùng của vua Lê Thánh Tông

 Từ tháng 11 năm Bính Thìn 1496, vua không khỏe. Tháng giêng năm Đinh Tị 1497, ngày 29, vua ốm nặng, bèn tựa kỷ ngọc, lệnh cho Hoàng Thái tử lên nối ngôi. Lúc sắp băng, vua có bài thơ tự thuật (cho tả hữu ghi lại). Vua mất ngày hôm sau.
Đây là bài thơ cuối cùng của vua:

Ngũ thập niên hoa thất xích khu,
Cương trường như thiết khước thành nhu.
Phong xuy song ngoại hoàng hoa tạ,
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù.     
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu,
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du.
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn,
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô?

Bản dịch:
Năm chục hoa niên bảy thước thân,
Lòng như sắt cứng bỗng mềm dần.
Gió lay khô héo hoa bên cửa,
Sương dãi gầy mòn liễu trước sân.
Trời biếc xa trông, mây thăm thẳm,
Kê vàng tỉnh giấc đối bâng khuâng.
Khuất lời cách mặt, non bồng vắng,
Băng ngọc du hồn nhập mộng chăng?

Nguồn: Đại Việt Sử Ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội-1993
( Người dịch bài thơ có lẽ là nhóm các ông Đào Duy Anh, Bùi Kỷ, Lê Thước, ...)
Ủa...mình tưởng trong một bài thơ thất ngôn bát cứ chữ cuối của câu 8 phải vần với chữ cuối của câu 1 mà! Vì sao Lê Thánh Tông dùng chữ "vô" được nhỉ?
'Tis better to have loved and lost than never to have loved at all
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 2 trang (18 bài viết)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối